Bản án 66/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH K

BẢN ÁN 66/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện DK xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Đức D - sinh năm 1985; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Thanh Minh 2 - DL - DK - K; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Dũng (1958) và bà Nguyễn Thị Xuân (1963); Tiền sự: không; Tiền án: bản án số 99/2005/HSST ngày 16/3/2005 của Tòa án nhân dân Quận 1 - tp. Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2017; Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - tỉnh K truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ 15 phút, ngày 16/4/2017, tổ công tác thuộc Công an huyện DK phối hợp với Công an thị trấn DK tiến hành tuần tra tại khu vực tổ dân phố Phan Bội Châu Châu 2 - thị trấn DK thì phát hiện Lê Đức D có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên mời về trụ sở Công an thị trấn DK để làm việc và thu giữ trong túi quần bên phải của Duy có 07 đoạn ống hút bằng nhựa được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Duy khai nhận là heroine, mua của một người phụ nữ lạ mặt tại khu vực lầu 7 - phường Vĩnh Phước - tp. N với giá 330.000đ để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 215 ngày 21/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K kết luận: chất bột nén màu trắng trong mẫu gửi giám định có trọng lượng 0,2042 gam, có heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 27/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đã truy tố bị cáo Lê Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - tỉnh K giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự 2015; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Lê Đức D, xử phạt D từ 02 năm đến 03 năm tù. Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà, bị cáo Lê Đức D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đã nêu.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định tối ngày 16/4/2017, bị cáo đã có hành vi tàng trữ tái phép chất ma túy để sử dụng. Qua khám xét người của bị cáo, tổ công tác thuộc Công an huyện DK đã thu giữ 07 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa heroine. Như vậy, hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện DK truy tố bị cáo D về tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ heroine là 01 loại chất hướng thần, gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán mà không được phép của Nhà nước đều bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, bị cáo lại ngang nhiên mua heroine về để sử dụng. Năm 2005, bị cáo cũng đã bị Tòa án nhân dân Quận 1- tp. Hồ Chí Minh xử phạt về tội danh này nhưng bị cáo đã không rút ra được bài học cho bản thân nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999. Điều này thể hiện thái độ xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc khác, theo Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 “V/v hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự 2015” thì Hội đồng xét xử nhận thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi gửi đi giám định.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Đức D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999 đối với bị cáo Lê Đức D. Công văn 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 “V/v hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015”.

 Xử phạt: Lê Đức D 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2017.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong mẫu vật còn lại, ký hiệu A (trọng lượng 0,1199gam).

Đc điểm, tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/8/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện DK với Chi cục thi hành án dân sự huyện DK.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đức D nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


178
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:66/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về