Bản án 657/2017/HSPT ngày 07/09/2017 về tội buôn bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 657/2017/HSPT NGÀY 07/09/2017 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1051/2016/HSPT ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 338/2016/HSST ngày 29.8.2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, Hà Nội

Bị cáo bị kháng nghị:

Trần Văn T, sinh năm 1963, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp tự do; trình độ văn hóa 7/10; dân tộc kinh, tôn giáo không; con ông Trần Văn Đ và bà Đào Thị Kh; có vợ là Nguyễn Thị H và 01 con; tiền án, tiền sự không; nhân thân ngày 31/10/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 2 năm tù về tội “Hiếp dâm”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2015 đến ngày 29/4/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại – có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đ và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Đ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23.12.2015, tại trước cửa căn hộ số 124 – C5 tập thể V, Ngã Tư S, quận Đ, Hà Nội, Công an quận Th, Hà Nội phát hiện xe ô tô nhãn hiệu Daewoo – NubiraII mang biển kiểm soát 89K – 3275 do Trần Văn T điều khiển có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra, phát hiện trên xe ô tô có 444 cây thuốc lá điếu (4440 bao thuốc) nhãn hiệu 555 Gold để trong 18 bao tải dứa màu trắng (T không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ số thuốc trên). Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 11563/C54 ngày 25.12.2015 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận 4440 bao thuốc lá 555Gold là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 84/ĐGTS ngày 19.3.2016 của Hội đồng định giá quận Đ kết luận 4440 bao thuốc lá 555Gold do nước ngoài sản xuất trị giá 142.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra Trần Văn T khai nhận: Do có một số đối tượng đến chào bán thuốc thuốc lá 555Gold do nước ngoài sản xuất tại quán nước nhà T, biết được nhu cầu của người tiêu dùng, T đã mua gom số thuốc lá trên khoảng 300.000 đồng/cây thuốc lá. Sau khi gom được 444 cây thuốc lá 555Gold, ngày 23.12.2015, Trần Văn T mượn xe ô tô nhãn hiệu Daewoo – NubiraII mang BKS 89K – 3275 của anh Nguyễn Thanh B rồi cho 444 cây thuốc lá trên vào 18 bao tải dứa màu trắng vận chuyển xuống Hà Nội bán kiếm lời, khi đi đến trước cửa căn hộ số 124 – C5 tập thể V, Ngã Tư S, quận Đ, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 338/2016/HSST ngày 29.8.2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, Hà Nội đã xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 ; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999 :

Xử phạt Trần Văn T 04 tháng 07 ngày tù. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/9/2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Hà Nội có kháng nghị số 96/KN-VKS đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt như đã đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Đ tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi buôn bán thuốc lá của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án; giao hồ sơ vụ án và vật chứng cho Cơ quan Công an quận Đ xử lý hành chính đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ tang vật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/12/2015, Trần Văn T có hành vi vận chuyển 444 cây thuốc lá 555 Gold do nước ngoài sản xuất xuống Hà Nội để bán kiếm lời. Hành vi trên của bị cáo, theo qui định của Luật đầu tư thì thuốc lá không phải là hàng cấm. Do thay đổi của chính sách pháp luật nên hành vi nêu trên của bị cáo không phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự là không đúng. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án; giao hồ so vụ án và vật chứng cho Cơ quan công an quận Đ giải quyết theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Hà

Nội trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật; Kết luận giám định số 11563/KLGĐ-PC54 ngày 25/12/2015 của Viện kỹ thuật hình sự - Bộ Công an và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/12/2015, Trần Văn T có hành vi vận chuyển 444 cây thuốc lá 555 Gold do nước ngoài sản xuất xuống Hà Nội để bán kiếm lời. Khi đi đến trước cửa căn hộ số 124 - C5 tập thể V, Ngã Tư S, quận Đ, Hà Nội thì bị Công an quận Th, Hà Nội bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Theo qui định của Luật đầu tư và Bộ luật hình sự năm 2015 thì kể từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/01/2018, không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999. Như vậy, do sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật nên hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm. Do vậy, cần áp dụng điểm d khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 107 và Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, hủy bản án sơ thẩm số 338/2016/HSST ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, Hà Nội, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa. Hành vi trên của bị cáo cần xử lý hành chính theo qui định tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo qui định tại Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính, cần giao hồ sơ, tang vật vi phạm của vụ án cho Cơ quan Công an quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính đối với bị cáo theo qui định của pháp luật.

Việc đình chỉ vụ án là do thay đổi chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, nên bị cáo Trần Văn T không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Do thay đổi chính sách hình sự nên việc Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 107; điểm d khoản 2 Điều 248; Điều 251 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính.

1. Hủy bản án sơ thẩm số 338/2016/HSST ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.

2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T không phạm tội và đình chỉ vụ án.

3. Bị cáo Trần Văn T không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

4. Giao hồ sơ, tang vật của vụ án đến người có thẩm quyền của Cơ quan Công an quận Đ, thành phố Hà Nội xử lý vi phạm hành chính đối với bị cáo Trần Văn T.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 07/9/2017.


252
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về