Bản án 65/2020/HSST ngày 24/08/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 65/2020/HSST NGÀY 24/08/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 17 và 24 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lY số: 46/2020/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Trần Xuân L (tên gọi khác: Đ), sinh năm 1981, tại Đồng Nai.

HKTT: Thôn 6, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; con ông Trần Ngọc V và bà Bùi Thị M; vợ Nguyễn Thị Ngọc Ch, sinh năm 1981 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 07/02/2001, bị Công an huyện Bù Đăng xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc;

Ngày 24/11/2001, bị chủ tịch UBND huyện Bù Đăng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi cố ý gây thương tích.

Ngày 15/7/2002, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục tổng hợp hành vi đánh bạc (ngày 07/02/2001) và cố ý gây thương tích (ngày 24/11/2001) thời hạn 18 tháng (đã chấp hành).

Ngày 11/9/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội đánh bạc (đã chấp hành xong toàn bộ bản án).

Ngày 12/8/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc, chưa chấp hành hình phạt.

Bị cáo bị áp tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2020 đến ngày 17/3/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay. (Có mặt).

2. Tạ Ngọc H (tên gọi khác: đ) sinh năm 1978, tại Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Tạ Ngọc C và bà Lâm Thị Ph; Vợ Đặng Thị H, sinh năm 1981 và 01 con sinh năm 2001;

Tiền sự: Ngày 11/6/2019, bị Công an huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc; tiền án: Không.

Về nhân thân: Ngày 12/8/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc, chưa chấp hành hình phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/3/2020 đến nay. (Có mặt).

3. Nguyễn Văn D, sinh năm 1969, tại Bến Tre.

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị Ch; vợ: Phan Thị Tuyết L, sinh năm 1969 và 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền sự, Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 21/02/2020 đến ngày 01/3/2020 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (Có mặt).

4. Lý Chấn Ph, sinh năm 1983, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; con ông Lý A S và bà Danh Thị B; vợ Đỗ Thị H, sinh năm 1979 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 21/02/2020 đến ngày 01/3/2020 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt).

5. Điểu L, sinh năm 1977, tại Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn 12, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; số chứng minh nhân dân 285198972; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: S’tiêng; con ông Điểu H và bà Điểu Thị L; vợ Điểu Thị Sang, sinh năm 1980 và 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự, Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 21/02/2020 đến ngày 01/3/2020 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.(Có mặt).

6. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987, tại Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn 3, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Th Đ và bà Phạm Thị Y; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 và 01 con sinh năm 2010; Tiền sự, Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 21/02/2020 đến ngày 01/3/2020 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt).

7. Nguyễn Nam Tr, sinh năm 1983, tại Bến Tre.

Nơi cư trú: Thôn B, xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Thùy Tr; vợ Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1983 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 21/02/2020 đến ngày 01/3/2020 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt).

8. Trần Văn T, sinh năm 1969, tại Bến Tre.

HKTT: Ấp L, xã Ph, huyện Ch, tỉnh Bến Tre.

Nơi tạm trú: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn H và bà Lê Thị S; vợ Lê Thị Hồng V, sinh năm 1967 và và 02 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 21/02/2020 đến ngày 01/3/2020 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:

Khong 15 giờ ngày 21/02/2020, Trần Xuân L mang theo số tiền 14.000.000đ cùng một tấm bạt màu trắng có in chữ tài – xỉu và nhiều chữ số tự nhiên, 01 đĩa (dĩa) sành màu trắng, 01 nắp nhựa màu đỏ – đen, 03 viên xúc xắc (hột xí ngầu) bỏ trong cốp xe mô tô biển số 60B4 – 41523 của Nguyễn Quốc Bảo, rồi điều khiển xe đến nhà của Nguyễn Văn D thuộc thôn 02, xã Nghĩa Tr, huyện Bù Đăng. Tại đây, L gặp Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, LY Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D và Tạ Ngọc H nên L rủ mọi người chơi xóc “tài – xỉu” thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi như sau: L (là người C cái) trải tấm bạt xuống nền nhà, cho B hột xúc xắc vào trong đĩa (dĩa) sành dùng nắp đậy lại rồi xóc sau đó để xuống, những người chơi đặt cược tài hoặc xỉu. Khi những người chơi đã đặt cược xong thì L mở nắp đĩa (dĩa) ra, nếu tổng số điểm có trên hột xúc xắc từ 03 – 10 là xỉu, còn từ 11 – 18 là tài, người chơi đặt tiền bên nào thì thắng thua tương ứng với số tiền đã đặt. Trường hợp B hột xúc xắc có các mặt giống nhau gọi là “bão” thì L sẽ ăn hết toàn bộ số tiền đặt cược. Số tiền đặt cược mỗi ván dao động từ 200.000 – 5.000.000đ.

Các đối tượng chơi đến khoảng 17 giờ 20 cùng ngày thì bị Công an huyện Bù Đăng phối hợp với công an xã Nghĩa Tr bắt quả tang người cùng tang vật, thu tại chiếu bạc 650.000đ, thu trên người những người tham gia đánh bạc 51.350.000đ cùng 01 đĩa (dĩa) sành, 01 nắp nhựa, 03 xúc xắc, 01 tấm bạt và 06 xe mô tô.

Quá trình điều tra xác định: Trần xuân L sử dụng 14.000.000đ đến khi bị bắt thua 500.000đ, còn lại 13.500.000đ; Nguyễn Nam Tr sử dụng 4.000.000đ đến khi bị bắt thắng Đ 3.300.000đ, tổng số tiền là 7.300.000đ; Tạ Ngọc H sử dụng 500.000đ đến khi bị bắt thua 200.000đ, còn lại 300.000đ; Điểu L sử dụng 5.000.000đ đến khi bị bắt thua 1.650.000đ, còn lại 3.350.000đ; Nguyễn Văn Th sử dụng 500.000đ đến khi bị bắt thắng Đ 200.000đ, tổng số tiền là 700.000đ; Lý Chấn Ph sử dụng 5.000.000đ đến khi bị bắt thua 500.000đ, còn lại 4.500.000đ; Trần Văn T sử dụng 2.000.000đ đến khi bị bắt thua 500.000đ, còn lại 1.500.000đ; Nguyễn Văn D sử dụng 3.000.000đ đến khi bị bắt thua 500.000đ, còn lại 2.500.000đ. Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là là 37.500.000đ.

Tại Cáo trạng số: 51/CTr –VKS, ngày 25/5/2020 của Viện kiểm sát nH dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Trần Xuân L cùng Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D, Tạ Ngọc H về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, vì vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm “Tội đánh bạc”; về hình phạt: áp dụng Khoản 1 Điều 321 điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Xuân L và tạ Ngọc H mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321 điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử các bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 34.000.000đ; tịch thu tiêu hủy 01 đĩa (dĩa) sành, 01 nắp nhựa, 03 xúc xắc, 01 tấm bạt; Về án phí buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố; Bị cáo Trần Xuân L và Tạ Ngọc H đồng ý về hình phạt và các vẫn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo còn lại cho rằng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nặng đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng, các bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2020, Trần Xuân L cùng Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D, Tạ Ngọc H có hành vi chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền tổng cộng 37.500.000đ, đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày bị Công an huyện Bù Đăng bắt quả tang.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi chơi xóc đĩa bằng hình thức thắng thua bằng tiền, tổng cộng 37.500.000đ của các bị cáo nêu trên đã phạm vào “Tội đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do coi thường pháp luật và ham mê thắng thua bằng tiền nên đã phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng mang tính chất giản đơn, đều là người thực hành trong vụ án. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Trần Xuân L đã từng nhiều lần bị xử phạt hành Ch và từng bị kết án về hành vi đánh bạc; bị cáo Tạ Ngọc H có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc. Ngày 23/6/2019 bị cáo Bị cáo Trần Xuân L và Tạ Ngọc H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng khởi tố về Tội đánh bạc, trong thời gian Tòa án chuẩn bị xét xử các bị cáo tiếp tục phạm tội; tại Bản án hình sự Ph thẩm số 65/2020/HSPT, ngày 12/8/2020 của Tòa án nH dân tỉnh Bình Phước xử các bị cáo Tạ Ngọc H và Trần Xuân L, mỗi bị cáo 06 tháng tù, thể hiện các bị cáo là người có nH tH xấu coi thường pháp luật, nên cần xử các bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; đồng thời, tổng hợp hình phạt của H bản án buộc các bị cáo chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không ai có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều Th khẩn kH báo, ăn năn hối cải; Trừ bị cáo L và H, các bị cáo khác phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Tạ Ngọc H bị bệnh Thuyên tắc phổi không có T phế cấp; các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Nam Tr, Trần Văn T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, Đ Ch quyền địa Ph xác nhận; bị cáo Điểu L và bị cáo Nguyễn Nam Tr có con còn nhỏ (sinh năm 2020) là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải xử phạt tù mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự xử các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm người có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp. Các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập sung quỹ Nhà nước; Các bị cáo Nguyễn Nam Tr, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo Tạ Ngọc H bị bệnh Thuyên tắc phổi không có tâm phế cấp thường xuyên pải nằm viện điều trị nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Đối với các bị cáo Trần Xuân L, Nguyễn Văn Th, Lý Chấn Ph không có xác nhận hoàn cảnh khó khăn nên áp dụng Khoản 3 Điều 321 xử phạt phạt bổ sung để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về vật chứng vụ án: Số tiền 34.000.000đ là tiền dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước. Đối với 01 đĩa (dĩa) sành, 01 nắp nhựa, 03 xúc xắc, 01 tấm bạt sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo pH nộp theo luật định.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân L, Tạ Ngọc H, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D phạm Tội đánh bạc.

* Hình phạt chính:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Xuân L 07 (bảy) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) tháng tù về Tội đánh bạc của Bản án hình sự phúc thẩm số 65/2020/HSPT, ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2020 đến ngày 17/3/2020 và thời hạn tạm giữ từ ngày 17/6/2019 đến ngày 23/6/2019.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Ngọc H 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) tháng tù về Tội đánh bạc của Bản án hình sự của Bản án hình sự phúc thẩm số 65/2020/HSPT, ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao người bị kết án Nguyễn Văn Th, Nguyễn Văn D, Lý Chấn Ph cho Ủy ban nhân dân xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục.

Giao người bị kết án Điểu L cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục.

Giao người bị kết án Nguyễn Nam Tr cho Ủy ban nhân dân xã Ngh, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục.

Giao người bị kết án Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục.

* Hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Xuân L số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng); Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Th, Lý Chấn Ph mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng).

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 34.000.000đ;

Tịch thu tiêu hủy 01 tấm bạt màu trắng có in chữ tài, xỉu và một dòng số tự nhiên, 01 đĩa (dĩa) sành, 01 nắp nhựa đen đỏ, 03 xúc xắc.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0009777, ngày 08/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Xuân L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Nam Tr, Lý Chấn Ph, Trần Văn T, Điểu L, Nguyễn Văn D, Tạ Ngọc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


74
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2020/HSST ngày 24/08/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:65/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về