Bản án 64/2020/HNGĐ-ST ngày 28/12/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 64/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/12/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 28 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 319/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2020 và Thông báo mở lại phiên tòa số 53/2020/TB - XX ngày 11 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị P, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ 02, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hà Hoàng L, sinh năm 1975.Địa chỉ: Tổ 07, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 10 năm 2020, bản tự khai và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lò Thị P trình bày:

Chị P và anh Hà Hoàng L đăng ký kết hôn ngày 05/6/2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị P trình bày, chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh L bỏ đi làm ăn xa ít khi về nhà, không quan tâm đến gia đình, vợ con, vợ chồng rất ít khi gặp nhau, nhưng khi gặp nhau là xảy ra xung khắc, xô xát, cãi vã... Mâu thuẫn đã được vợ chồng và hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2020 không còn quan tâm đến nhau. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn với anh Hà Hoàng L.

* Về nuôi con: Chị P và anh L có 02 con chung là cháu Hà Đình Anh V, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Hà Phương A, sinh ngày 10/7/2018, nếu Tòa án giải quyết cho chị và anh L ly hôn, chị P có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Hà Phương A, anh L sẽ nuôi cháu Hà Đình Anh V, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị P và anh L không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

* Về chia tài sản, nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Hà Hoàng L vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai, biên bản hòa giải, anh L trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Anh L xác nhận về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như lời chị P trình bày là đúng, tuy nhiên về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn như chị P trình bày là không đúng, theo anh L, vợ chồng anh chị không có mâu thuẫn gì lớn chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày mà gia đình nào cũng gặp phải. Theo anh L, ngày 26/8/2020 chị P đi Hà Nội nhiều ngày mà không thông báo cho anh biết đi gặp ai, làm gì để anh sắp sếp thời gian, công việc của mình nên từ đó hai vợ chồng giận nhau. Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải để anh, chị về đoàn tụ để nuôi dạy con chung.

* Về nuôi con: Anh L thừa nhận có 02 con chung như chị P đã trình bày nêu trên là đúng. Anh không nhất trí về việc ly hôn với chị P nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

* Về chia tài sản, nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lò Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết quyền nuôi con với anh Hà Hoàng L, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Hà Hoàng L có hộ khẩu thường trú tại tổ 07, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, căn cứ khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Hà Hoàng L vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Lò Thị P vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật TTDS 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị P và anh Hà Hoàng L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 05/6/2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn,vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị P do bất đồng quan điểm sống, anh L đi làm xa nhà, không quan tâm đến gia đình, vợ con; vợ chồng ít có thời gian dành cho nhau, nhưng mỗi khi gặp nhau lại xảy ra xô xát, cãi vã... Còn anh L cho rằng, anh và chị P không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống gia đình, chưa đến mức phải ly hôn…Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải, anh L đề nghị đoàn tụ, nhưng chị P kiên quyết yêu cầu ly hôn, nên Tòa án hòa giải không thành. Từ đó, có căn cứ cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị P và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ,nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị P và anh L có 02 con chung, là cháu Hà Đình Anh V và cháu Hà Phương A. Cháu Phương A đang ở cùng với chị P, cháu V đang ở cùng với anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự đến để hòa giải về việc nuôi con, nhưng anh L không đồng ý thỏa thuận. Xét về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, chị P và anh L đều đảm bảo.Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử cháu Hà Phương A chưa đủ 36 tháng tuổi. Tại khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do đó cần giao cháu Hà Phương A cho chị Lò Thị P. Giao cháu Hà Đình Anh V cho anh Hà Hoàng L. Chị P, anh L mỗi người nuôi một con chung và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về chia tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lò Thị Phương phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Căn cứ Khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Lò Thị P được ly hôn với anh Hà Hoàng L.

2.Về nuôi con:Giao cháu Hà Phương A, sinh ngày 10/7/2018 cho chị Lò Thị P. Giao cháu Hà Đình Anh V, sinh ngày 26/6/2014 cho anh Hà Hoàng L. Chị P, anh L có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu Hà Phương A, Hà Đình Anh V cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị P, anh L không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lò Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số AA/2017/0006577 ngày 09/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái. Xác nhận chị P đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2020/HNGĐ-ST ngày 28/12/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:64/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Yên Bái - Yên Bái
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về