Bản án 63/2020/HS-ST ngày 23/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 63/2020/HS-ST NGÀY 23/11/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm T lý số: 71/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Doãn C. Tên gọi khác: Không, sinh năm 1988. Tại: Thôn Lê Xá, xã Lê Ninh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Thôn L, xã LN, thị xã KM, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá ( học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh;

giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Ngô Doãn C2, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 .

Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự số 293/2013/HSST ngày 24-10-2013 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 17-10-2015 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 28-02-2014 chấp hành xong phần thi hành án dân sự (tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng).

+ Tại bản án số 130/2018/HSST ngày 19-7-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Ngày 05-11-2019 chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong phần thi hành án dân sự (tiền án phí 200.000 đồng).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-6-2020 đến ngày 20-6-2020 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay.

2.Họ và tên: Hoàng Văn T. Tên gọi khác: Không, sinh năm 1993. Tại: Thôn Lê Xá, xã Lê Ninh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Thôn Lê Xá, xã Lê Ninh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá ( học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có vợ và 01 con sinh năm 2012.

Con ông: Hoàng Văn C3, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964.

Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-6-2020 đến ngày 20-6-2020 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Doãn C: Bà Lê Thị Thu Hiền – Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương.

Người chứng kiến:

Ông Phùng Văn Đ, sinh năm 1969 Địa chỉ: An Lăng, phường An Phụ, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Ông Ngô Doãn N, sinh năm 1967 Địa chỉ: Lê Xá, xã Lê Ninh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

( bị cáo C, T, bà Hiền đều có mặt, ông Đ, ông N đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 10-6-2020 Ngô Doãn C đi xe ôm của người không quen biết đến khu vực ga L, huyện K, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Tại đây C đã gặp và mua được của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ được 07 túi ma túy (gọi là Ke) có đặc điểm được đựng trong 07 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng;

02 túi ma túy (gọi là kẹo) có đặc điểm được đựng trong 2 túi nilon bên trong chứa 23 viên nén hình chữ nhật màu xám và 01 viên nén hình tam giác màu xanh, 36 túi ma túy đá có đặc điểm được đựng trong 36 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, 05 gói ma túy (loại Heroine) có đặc điểm được đựng trong 05 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng với giá 12.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C đi về nhà cất giấu toàn bộ số ma túy nêu trên ở chuồng lợn nhà C. Sáng ngày 16-6-2020 C lấy 01 gói ma túy có đặc điểm được đựng trong 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng cất giấu trên bờ tường ở cổng nhằm mục đích để ai đến hỏi mua thì bán. Khoảng 06 giờ ngày 17-6-2020 C đang ở nhà thì Hoàng Văn T đến chơi. C đã chỉ cho T gói ma túy được giấu trên bờ tường ở cổng rồi bảo T nếu có ai hỏi mua thì bán lại với giá 500.000 đồng. T đồng ý. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày Nguyễn Văn D, sinh năm 1988 trú tại khu dân cư Tử Lạc, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đến nhà C hỏi mua ma túy thì gặp T. D hỏi T bán cho 500.000 đồng ma túy loại Heroine. T đồng ý. Dương đưa cho T 500.000 đồng. T nhận tiền và chỉ cho D gói ma túy mà C cất giấu từ trước ở tường cổng. D đi ra lấy, cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, ngay lập tức tổ công tác Công an thị xã Kinh Môn phối hợp với Công an xã Lê Ninh đã phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: Thu tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc số tiền 500.000 đồng, thu tại lòng bàn tay trái của D 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong kí hiệu M1). T và D khai nhận gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng là ma túy túi loại Heroine do D vừa mua của T mà có. Số tiền 500.000 đồng là do bán ma túy cho Dương mà có.

Vào hồi 13 giờ 50 phút ngày 17-6-2020 Ngô Doãn C đã tự nguyện đến Công an xã Lê Ninh đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Tại Công an xã Lê Ninh, C khai nhận nội dung vụ việc như đã nêu ở trên đồng thời tự nguyện giao nộp: 07 túi ma túy có đặc điểm được đựng trong 07 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong kí hiệu M2); 02 túi ma túy có đặc điểm được đựng trong 02 túi nilon bên trong chứa 23 viên nén hình hộp chữ nhật màu xám và 01 viên nén hình tam giác màu xanh được niêm phong kí hiệu M3; 36 túi ma túy có đặc điểm được đựng trong 36 túi nilon bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong kí hiệu M4); 04 gói ma túy có đặc điểm được đựng trong 04 gói giấy bạc bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong kí hiệu M5).

Tại kết luận giám định số 281/KLGĐ-PC09 ngày 20-6-2020 của phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

+ Chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong trong bì thư kí hiệu M1 gửi đến giám định có khối lượng 0,009 gam là ma túy loại Heroine.

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì kí hiệu M2 gửi đến giám định có khối lượng 3,090 gam là ma túy loại Ketamine.

+ 23 viên nén hình hộp chữ nhật màu xám niêm phong trong bì thư kí hiệu M3 gửi đến giám định có khối lượng 7,611 gam là ma túy loại MDMA + 01 viên nén hình tam giác màu xanh niêm phong trong bì thư kí hiệu M3 gửi đến giám định có khối lượng 0,372 gam là ma túy loại MDMA.

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thư kí hiệu M4 gửi đến giám định có khối lượng là 14,342 gam là ma túy loại Methamphetamine.

+ Chất bột dạng cục màu trắng niêm phong trong bì thư kí hiệu M5 gửi đến giám định có khối lượng 0,733 gam là ma túy loại Heroine.

Heroine nằm trong danh mục I, STT 9, MDMA nằm trong danh mục I STT 27, Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323; Ketamine nằm trong danh mục III, STT 9 Nghị định 73/2018 ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng sau giám định gồm: 2,795 gam Ketamine; 13,91 gam Methamphetamine; 0,643 gam Heroine; 7,469 gam MDMA.

Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 08-10-2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn truy tố bị cáo Ngô Doãn C về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Văn T về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Ngô Doãn C và Hoàng Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Doãn C và Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Doãn C từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù thời hạn tính từ ngày 16-7-2020.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 27 tháng đến 30 tháng tù thời hạn tính từ ngày 16-7-2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T.

Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo Ngô Doãn C được miễn án phí, bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Doãn C nhất trí với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Ngô Doãn C, Hoàng Văn T đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17-6-2020 tại nơi ở của Ngô Doãn C có địa chỉ: thôn L, xã LN, thị xã KM, tỉnh Hải Dương, Hoàng Văn T đã có hành vi bán hộ Ngô Doãn C 0,009 gam ma túy loại Heroine cho Nguyễn Văn D được 500.000 đồng thì bị lực lượng Công an thị xã Kinh Môn phối hợp cùng Công an xã Lê Ninh bắt quả tang. Cùng ngày Ngô Doãn C đã đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp 3,090 gam ma túy loại Ketamine; 23 viên nén hình hộp chữ nhật màu xám khối lượng 7,611 gam là ma túy loại MDMA; 01 viên nén hình tam giác màu xanh 0,372 gam là ma túy loại MDMA; 0,733 gam là ma túy loại Heroine; 14,342 gam ma túy loại Methamphetamine. Toàn bộ số ma túy C giao nộp cho cơ quan Công an C khai mục đích đi mua về sử dụng và bán lại cho người khác.

Như vậy tổng số ma túy C mua về để sử dụng và bán lại cho người khác gồm 0,742 gam Heronie; 3,090 Ketamine; 14,342gam Methamphetmine; 7,983 gam MDMA. Quy đổi theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng ma túy C cất giấu để sử dụng và bán là 79,98%.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy hành vi của bị cáo Ngô Doãn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn truy tố các bị cáo đối với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] .Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C đã tự nguyện ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Đây là vụ án có đồng phạm nên khi xem xét quyết định hình phạt cũng cần đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo.

Đối với bị cáo Ngô Doãn C là người giữ vai trò chính. Bị cáo trực tiếp đi mua ma túy về để bán kiếm lời và nhờ T bán ma túy. Bị cáo lại là người có nhân thân xấu. Năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thàh phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 17-10-2015 chấp hành xong hình phạt tù. Năm 2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 05-11-2019. Tại bản án số 130 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương không xác định bị cáo tái phạm. Do hành vi phạm tội năm 2019 của bị cáo do lỗi vô ý nên theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo không bị coi là có án tích. Tuy nhiên điều đó cũng chứng tỏ bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo không tự rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo Hoàng Văn T là người giữ vai trò thực hành tích cực. Bị cáo đến nhà C chơi, được C nhờ bán ma túy và đã đồng ý. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về vật chứng: Số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T nguồn gốc do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với số ma túy được hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu huy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự.

[7]. Về án phí: Bị cáo Ngô Doãn C là đối tượng thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu nộp án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn án phí. Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong vụ án này đối với người đàn ông bán chất ma túy cho Ngô Doãn C quá trình điều tra không xác định được họ, tên, địa chỉ ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với đối tượng tự khai Nguyễn Văn D, sinh năm 1988 trú tại khu dân cư T, phường M, thị xã KM, tỉnh Hải Dương có hành vi tàng trữ 0,009 gam ma túy loại Heroine. Quá trình điều tra lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Quá trình xác minh tại phường M xác định không rõ đối tượng có tên và địa chỉ nhân thân lý lịch như trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn tiếp tục xác minh khi nào rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố các bị cáo Ngô Doãn C và Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Doãn C 12 năm 06 tháng (mười hai năm sáu tháng) tù thời hạn tính từ ngày 17-6-2020.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 27( hai mươi bảy) tháng tù thời hạn tính từ ngày 17-6-2020.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T.

Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư số 281/KLGĐ-PC09 Công an tỉnh Hải Dương.

( Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngô Doãn C.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


24
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về