Bản án 63/2018/KDTM-ST ngày 06/07/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán điện

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 63/2018/KDTM-ST NGÀY 06/07/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

Ngày 06 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2017/TLST-KDTM ngày 23 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2018/QĐXXST-KDTM ngày 04 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2018/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (có đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T);

Trụ sở: số 35 T, phường B, quận 1, TP.H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồng Ngọc Thy V, chức vụ: Phó Trưởng phòng Kinh doanh, địa chỉ: số 161D/106/36, đường L, phường 3, quận 11, TP.H. (theo Giấy ủy quyền số 0560/UQ-PCTP ngày 01 tháng 4 năm 2016).(Có mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M; Trụ sở chính: số AA5, đường T, phường 15, quận 10, TP.H. Địa chỉ chi nhánh: số 02, đường T, phường T, quận T, TP.H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Duy H; Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2017, trong bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (có đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T) và bản tự khai ngày 06/06/2018 do ông Hồng Ngọc Thy V là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Căn cứ vào Hợp đồng mua bán điện số 14/002510 ngày 26/9/2014 giữa Tổng Công ty Đ TP.H TNHH và Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M đang sử dụng điện kế có mã khách hàng PE07000229450. Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M mua điện để sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thanh toán của bên bán điện, bên mua điện có trách nhiệm thanh toán đầy đủ số tiền theo hóa đơn đã phát hành.

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng điện Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, còn nợ hóa đơn tiền điện với tổng số nợ là 9.069.508 (Chín triệu không trăm sáu mươi chín ngàn năm trăm lẻ tám đồng) đồng. Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M đã thanh toán được số tiền 2.698.308 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng. Cụ thể:

- Kỳ 5: từ ngày 07/5/2017 đến ngày 05/6/2017, điện năng tiêu thụ là 1501KW, thành tiền là 4.017.420 đồng;

- Kỳ 5: từ ngày 06/6/2017 đến ngày 29/6/2017, điện năng tiêu thụ là 869KW, thành tiền là 2.353.780 đồng.

Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T đã nhiều lần nhắc nợ tiền điện và ngừng cấp điện nhưng đến nay khách hàng vẫn chưa thanh toán.

Do Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nay Tổng công ty Đ TP.H TNHH kính đề nghị Tòa án nhân dân quận T buộc Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M phải thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ là 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng cho Tổng Công ty Đ TPH TNHH. Không yêu cầu tính lãi suất. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Tổng Công ty Đ TP.H TNHH vẫn giữ ý kiến và yêu cầu Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M phải thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ là 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng.

- Bị đơn Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M (do ông Đỗ Duy H là đại diện theo pháp luật) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Đơn khởi kiện của Tổng Công ty Đ TP.H TNHH, Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M mua điện để phục vụ kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, địa điểm lắp đặt điện kế tại số 02, đường T, phường T, quận T, TP.H. Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp kinh doanh thương mại về “Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quy định tại Điều 317 và Điều 319 Luật thương mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T theo quy định tại Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận T tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M.

 [2]. Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 06/6/2018, hợp đồng mua bán điện, giấy báo tiền điện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án:

 [2.1]. Ngày 26/9/2014, Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (có đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T) và Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M có ký hợp đồng mua bán điện số 14/002510 với điện kế có mã khách hàng PE07000229450. Như vậy là các bên đã có giao dịch mua bán điện với nhau. Các bên phát sinh tranh chấp từ ngày 07/5/2017.

 [2.2]. Căn cứ vào 02 giấy báo tiền điện đợt 5 - từ ngày 07/5/2017 đến ngày 29/6/2017 (là hóa đơn điều chỉnh tăng của hóa đơn có ID 385338305 và 385338302) đối với khách hàng là Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M với tổng mức điện năng tiêu thụ là 2.370KW, thành tiền là 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng, đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng. Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T) đã nhiều lần nhắc nợ tiền điện và ngừng cấp điện nhưng đến nay khách hàng vẫn chưa thanh toán. Do đó Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền điện là 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng.

 [2.3]. Do Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M vắng mặt không lý do và không nộp cho Tòa án chứng cứ, yêu cầu gì, do đó Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2.4]. Do Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký nên Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T), Tổng Công ty Đ TP.H TNHH yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M trả số tiền chưa thanh toán nêu trên là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét nên buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M phải thanh toán số tiền còn nợ là 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng cho nguyên đơn Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (có đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T). Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

 [3]. Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1, khoản 2 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điều 24, Điều 50, Điều 306, Điều 317 và Điều 319 Luật thương mại; Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 233, Điều 273 và Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 440 Bộ luật Dân sự 2015.

Khoản 1, khoản 2 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T)

Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M có trách nhiệm thanh toán cho Tổng Công ty Đ TP.H TNHH (có đại diện là Chi nhánh Tổng Công ty Đ TP.H TNHH - Công ty Đ T) số tiền 6.371.200 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, bên được thi hành án yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo án tuyên thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn lại cho Tổng Công ty Đ TP.H TNHH số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 (Ba triệu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009920 ngày 12/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T, Thành phố H. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Tổng Công ty Đ TP.H TNHH được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH Thương mại Vận tải Du lịch M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


130
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2018/KDTM-ST ngày 06/07/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán điện

Số hiệu:63/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 06/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về