Bản án 63/2018/HS-ST ngày 20/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 63/2018/HS-ST NGÀY 20/07/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 7 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Long Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2018/HSST ngày 15/6/2018 đối với bị cáo:

TRẦN THỊ L (H), sinh năm: 1981 tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 266/40/37/16 TĐản, phường 8, quận 4, Thành phố H; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Trần Thị Tu, sinh năm: 1960; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có ba chị em; Bị cáo có chồng là Phan Văn H (chết), bị cáo sống chung như vợ chồng với Lâm Văn To; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: Tại Bản án số 101/2017/HSST ngày 28/11/2017 Trần Thị L bị Tòa án nhân dân quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành án.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0031032/XPHC ngày 10/3/2017, Trần Thị L bị Công an phường 8, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt số tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo chưa đóng tiền phạt.

Nhân thân: - Bản án số 73/HSST ngày 15/11/2002 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt Trần Thị L 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

- Bản án số 1825/2015/HSST ngày 23/12/2005 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Thị L 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt giữ ngày 04/4/2018, chuyển tạm giam ngày 11/4/2018. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Vũ Thị Cẩm N, sinh năm: 1987. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Ph, xã H, huyện L, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 04/4/2018 Trần Thị L đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh xuống thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để tìm chồng là Lâm Văn T, đến khoảng 16 giờ cùng ngày L đi vào tiệm tạp hóa của chị Vũ Thị Cẩm N tại thị trấn Long Hải, huyện Long Điền để mua đồ. Khi vào tiệm, L hỏi mua 05 gói cháo ăn liền và đã trả tiền cho chị N. Lúc này, L thấy chị N đang sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng và cất vào trong hộc tủ để ngay quầy tính tiền rồi quay sang bán đồ cho một số người khách khác nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. Lợi dụng lúc chị N không để ý, Lý đi đến dùng tay kéo ngăn tủ ra lấy chiếc điện thoại trên và một số tiền với nhiều mệnh giá khác nhau (tổng cộng là 3.260.000đồng) bỏ vào trong túi nylông dùng để đựng những gói cháo mà L đã mua trước đó. Khi L vừa lấy tài sản đi ra khỏi cửa tiệm thì bị chị N phát hiện bắt quả tang L cùng vật chứng và trình báo cơ quan công an.

Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 27/KH.HĐĐG ngày 06/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Long Điền kết luận: Một điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus, dung lượng 64G, màu hồng, số Imei: 355733075441201, đã qua sử dụng, trị giá 9.600.000đồng

Vật chứng của vụ án gồm: Một điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus màu hồng và số tiền 3.260.000đồng, đã trao trả cho chị Vũ Thị Cẩm N là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Chị N đã nhận lại đầy đủ số tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, về phần hình sự đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKSLĐ ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố Trần Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Thị L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thấy mình không bị oan, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm trở về địa phương.

Đại diện VKS tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt của bản án số 101/2017/HSST ngày 28/11/2017 Trần Thị L bị Tòa án nhân dân quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên không xem xét đến.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố. Theo đó, vào khoảng 16 giờ, ngày 04/4/2018, lợi dụng sự sơ hở của chị Vũ Thị Cẩm N đang bán hàng trong lúc đông khách, Trần Thị L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus màu hồng trị giá theo kết quả định giá tài sản là 9.600.000đồng và số tiền 3.260.000đồng của chị N. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của chị N là 12.860.000đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Trần Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa chấp hành án mà lại phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này được xem là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra bị cáo còn là người có nhân nhân xấu, vào năm 2002 bị cáo đã bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2005 bị xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tháng 3/2017 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bị cáo chưa đóng tiền phạt. Sau khi chấp hành xong hai bản án và đang được tại ngoại để chờ thi hành án, bị cáo không những không thay đổi bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà còn tiếp tục phạm tội, điều đó cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật, khó giáo dục. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Đồng thời cần tổng hợp hình phạt của Bản án số 101/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự.

[4] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Thị Cẩm N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xét đến. Về trách nhiệm hình sự chị Nhung đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Một điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus màu hồng và số tiền 3.260.000đồng. Đã trao trả cho chị Vũ Thị Cẩm N là chủ sở hữu, nên không xét đến.

[7] Án phí: Bị cáo Trần Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Thị L 01 (một) năm tù.

Căn cứ vào Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 09 (chín) năm tù của Bản án số 101/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo Trần Thị L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Đã xong. Về xử lý vật chứng: Đã xong.

Án phí: Buộc bị cáo Trần Thị L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/7/2018), bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


58
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 63/2018/HS-ST ngày 20/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:63/2018/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Điền - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:20/07/2018
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về