Bản án 63/2018/HS-PT ngày 23/04/2018 về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 63/2018/HS-PT NGÀY 23/04/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC VÀ TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Ngày 23/4/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2018/TLPT-HS ngày 09/3/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm 12/2018/HS-ST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Q (B), sinh ngày 05/3/1979 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: K12x/1xx đường L, tổ 1x, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Văn C (s) và bà Lê Thị G (s); Có vợ là Ngô Thị Mỹ N và có 02 con: con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/10/2017 đến ngày 15/12/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cho tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn 07 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê bắt quả tang tại quán cà phê số K12x/1xx đường L, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng có hai chiếu đánh bạc trái phép bằng hình thức bài “Phỏm”, được thua bằng tiền, cụ thể:

Chiếu bạc thứ nhất gồm có: Lê Bá T, Nguyễn Thành T, Cao Thị B, Huỳnh Văn K.

Chiếu bạc thứ hai gồm có: Phan Minh Q, Nguyễn Nhật P, Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn Q.

Tang vật thu giữ tại chỗ gồm:

- 06 bộ bài tây, loại 52 lá đã qua sử dụng; 02 bàn, 08 ghế bằng nhựa màu xanh; 02 vỏ lon bằng sắt (01 lon có chữ Grow màu đỏ và 01 lon có chữ Grow màu xanh); 50.000đ trong vỏ lon bằng sắt tại chiếu bạc thứ nhất và 40.000đ trong vỏ lon bằng sắt tại chiếu bạc thứ hai.

- Thu giữ của Nguyễn Thành T số tiền 7.950.000đ;

- Thu giữ của Cao Thị B số tiền 1.370.000đ;

- Thu giữ của Phan Minh Q số tiền 1.460.000đ;

- Thu giữ của Huỳnh Văn K số tiền 4.365.000đ;

- Thu giữ của Nguyễn Thị M số tiền 2.528.000đ;

- Thu giữ của Nguyễn Nhật P số tiền 112.000đ;

- Thu giữ của Lê Bá T số tiền 1.500.000đ;

- Thu giữ của Nguyễn Văn Q số tiền 10.145.000đ;

Hình thức đánh bài “Phỏm” như sau: Bộ bài 52 lá được chia thành bốn phần cho bốn người chơi, mỗi người được chia 09 cây bài, riêng người chia bài được chia 10 cây bài, số bài còn lại để ở giữa chiếu bạc. Thứ tự đánh bạc theo vòng tròn tùy theo quy ước với nhau là đánh từ trái qua phải hoặc ngược lại, bắt đầu từ người chia bài có 10 cây bài được đánh trước 01 cây bài xuống chiếu bạc, người tiếp theo của người đánh trước căn cứ vào 09 cây bài của mình và cây bài của người trước đã đánh xuống chiếu bạc để xem có tạo thành “Phỏm” hay không để ăn cây bài đó hoặc bốc 01 cây bài đặt giữa chiếu bạc lên và đánh 01 cây bài như người đánh trước đó. Lần lượt, những người tiếp theo cũng căn cứ vào bài trên tay xem có ăn hay không ăn cây bài của người trước đó đã đánh để thực hiện việc đánh bài và cứ quay vòng tròn cho đến khi có người “ù” hoặc đến khi số bài đặt giữa chiếu bạc hết thì kết thúc ván bài. Nếu có một người ăn cây bài do người trước đánh thì gọi là “ăn gà”; Nếu có người “ù” thì dừng không đánh nữa mà tất cả chung tiền cho người có bài “ù”. Nếu không có ai “ù” thì khi hết số bài ở giữa chiếu bạc cách tính điểm trên những cây bài còn lại trên tay để xác định người về nhất, nhì, ba và về chót như sau: Cây A (át), 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K lần lượt là từ 01 điểm cho đến 13 điểm. Nếu tổng điểm của ai ít nhất là người về nhất và được ăn tiền của ba người còn lại căn cứ vào mức tiền thỏa thuận trước khi đánh bạc. Người không có “Phỏm” gọi là bị cháy. “ù” là người chơi có 09 cây bài cùng nằm trong các “Phỏm”, “ù” tròn là “ù” trắng tay khi người chơi có 10 cây nằm trong các “Phỏm”. “Phỏm” tức là có ít nhất 03 cây bài cùng loại hoặc có ít nhất 03 cây bài cùng chất (rô, cơ, chuồn, bích). Ngoài ra, người chơi còn chơi cá độ cây bài “K” và khi bị ăn cây “K” là mất tiền.

Tỷ lệ thỏa thuận thắng thua của hai chiếu bạc như sau:

Chiếu bạc thứ nhất:

- Thua nhì 50.000đ; thua ba 100.000đ; thua chót 150.000đ; thua “cháy” 200.000đ.

- Thua 01 cây “K” là 200.000đ; thua 04 cây “K” là 1.500.000đ. Nếu người đánh cây “K” mà bị người khác ăn tạo thành 04 cây “K” thì bị đền “K” tức là người đó thua toàn bộ số tiền thua 04 cây “K” của ván bài đó.

- Thua “ù” thường là 300.000đ, thua “ù” tròn là 500.000đ. Nếu người chơi đánh bài bị người khác ăn 03 cây bài trong một ván bài thì phải chịu “ù đền”, tức là người đó chịu thua toàn bộ số tiền của ván bài đó.

- Thua “” theo thứ tự cây thứ nhất chịu 50.000đ, cây thứ hai 100.000đ, cây chốt hạ là 200.000đ.

Trong quá trình đánh bạc, nếu có người đánh bạc “ù” hoặc có 04 cây “K” thì người đó bỏ vào vỏ lon bằng sắt 50.000đ tiền xâu có sẵn tại chiếu bạc cho người đứng ra tổ chức hưởng.

Chiếu bạc thứ hai:

- Thua nhì 20.000đ; thua ba 40.000đ; thua chót 60.000đ; thua “cháy” 80.000đ.

- Thua 01 cây “K” là 80.000đ; thua 04 cây “K” là 600.000đ. Nếu người đánh cây “K” mà bị người khác ăn tạo thành 04 cây “K” thì bị đền “K” tức là người đó thua toàn bộ số tiền thua 04 cây “K” của ván bài đó.

- Thua “ù” thường là 120.000đ, thua “ù” tròn là 200.000đ. Nếu người chơi đánh bài bị người khác ăn 03 cây bài trong một ván bài thì phải chịu “ù đền”, tức là người đó chịu thua toàn bộ số tiền của ván bài đó.

 Thua “” theo thứ tự cây thứ nhất chịu 20.000đ, cây thứ hai 40.000đ, cây chốt hạ là 80.000đ. Trong quá trình đánh bạc, nếu có người đánh bạc “ù” hoặc có 04 cây “K” thì người đó bỏ vào vỏ lon bằng sắt tiền xâu có sẵn tại chiếu bạc cho người đứng ra tổ chức hưởng.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/10/2017, Lê Bá T, Nguyễn Thành T, Cao Thị B, Huỳnh Văn K, Phan Minh Q, Nguyễn Nhật P, Nguyễn Thị M, đến quán cà phê số K12x/1xx đường L, quận K, thành phố Đà Nẵng do Nguyễn Văn Q làm chủ và tổ chức để đánh bạc trái phép. Tại đây, Nguyễn Văn Q đã tổ chức cho các đối tượng trên bằng cách cung cấp bàn ghế, các bộ bài tây và hai vỏ lon sữa bằng sắt tại hai chiếu bạc để thu tiền xâu theo thỏa thuận từ trước với những người đánh bạc trái phép. Ngoài ra, Nguyễn Văn Q còn trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép tại chiếu bạc thứ hai. Tại thời điểm bắt quả tang, các đối tượng đã bỏ tiền xâu tại hai chiếu bạc cho Nguyễn Văn Q được 90.000đ.

Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc trái phép và ăn thua như sau:

Chiếu bạc thứ nhất:

- Lê Bá T mang theo 1.700.000đ để đánh bạc, bị thua 200.000đ. Số tiền bị thu giữ còn lại là 1.500.000đ.

- Nguyễn Thành T mang theo 6.600.000đ để đánh bạc, thắng 1.350.000đ. Số tiền bị thu giữ tổng cộng là 7.950.000đ.

- Cao Thị B mang theo 1.520.000đ để đánh bạc, bị thua 150.000đ. Số tiền bị thu giữ còn lại là 1.370.000đ.

- Huỳnh Văn K mang theo hơn 3.000.000đ để đánh bạc, thắng 1.300.000đ. Số tiền bị thu giữ tổng cộng là 4.365.000đ. Tiền thu xâu của chiếu bạc này được 50.000đ. Như vậy, chiếu bạc thứ nhất có tổng số tiền dùng để đánh bạc trái phép là 15.235.000đ.

Chiếu bạc thứ hai:

- Phan Minh Q mang theo 1.260.000đ để đánh bạc, thắng 200.000đ. Số tiền bị thu giữ tổng cộng là 1.460.000đ.

- Nguyễn Nhật P mang theo 512.000đ để đánh bạc, thua 400.000đ. Số tiền bị thu giữ còn lại là 112.000đ.

- Nguyễn Thị M mang theo hơn 2.000.000đ để đánh bạc. Số tiền bị thu giữ tổng cộng là 2.528.000đ.

- Nguyễn Văn Q bị thu giữ số tiền để đánh bạc là 10.145.000đ.

Tiền thu xâu của chiếu bạc này được 40.000đ. Như vậy, chiếu bạc thứ hai có tổng cộng số tiền dùng để đánh bạc trái phép là 14.285.000đ.

Tổng số tiền của hai chiếu bạc dùng để đánh bạc trái phép là 29.520.000đ (Hai mươi chín triệu năm trăm hai mươi ngàn đồng).

Tại Bản án sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành chung là 15 tháng tù. Được trừ thời gian đã tạm giam kể từ ngày 08/10/2017 đến ngày 15/12/2017 là 69 ngày bằng 02 tháng 09 ngày, như vậy hình phạt tù bị cáo Nguyễn Văn Q còn phải chấp hành là 12 tháng 21 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Bản án còn quyết định về phần hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Q nhưng bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị đối với phần này; quyết định về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thành T, Huỳnh Văn K, Lê Bá T, Cao Thị B, Nguyễn Thị M, Phan Minh Q và Nguyễn Nhật P nhưng các bị cáo này không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 09/02/2018, bị cáo Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử quá nghiêm khắc, xin cứu xét theo trình tự xét xử phúc thẩm để cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lo cho gia đình và nuôi mẹ già bệnh tật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì Kiểm sát viên cho rằng Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HS-ST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 và 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS 1999 là phù hợp, đúng pháp luật. Theo quy định của pháp luật bị cáo không thuộc trường hợp được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn Q vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình: Bị cáo là người quản lý quán cà phê số K12x/1xx đường L, quận K, thành phố Đà Nẵng, trong quá trình kinh doanh, vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/02/2017 Nguyễn Văn Q đã trực tiếp sử dụng quán cà phê làm địa điểm, chuẩn bị bàn ghế, bài tây và 02 vỏ lon bằng sắt tổ chức cho nhiều người đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài “Phỏm” cùng lúc cho hai chiếu bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc trái phép là 29.520.000đ nhằm hưởng lợi bất chính thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê phát hiện, bắt quả tang. Đồng thời, bị cáo Nguyễn Văn Q còn trực tiếp tham gia đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai với các bị cáo Phan Minh Q, Nguyễn Nhật P, Nguyễn Thị M với tổng số tiền dùng để đánh bạc trái phép của chiếu bạc là 15.235.000đ. Trong đó, bản thân bị cáo Nguyễn Văn Q dùng số tiền để tham gia đánh bạc trái phép là 10.145.000đ.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định: Bản án hình sự sơ thẩm số12/2018/HS-ST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Trong vụ án này bị cáo vừa phạm tội “Tổ chức đánh bạc” vừa phạm tội “Đánh bạc” nên theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo thì bị cáo không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Tuy nhiên, xét thấy từ giai đoạn điều tra, truy tố đến nay bị cáo luôn khai báo thành khẩn, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình. Trong vụ án này ở sòng bài thứ nhất do bị cáo T khởi xướng, rủ rê bị cáo lập sòng bài đánh phỏm. Ở sòng bài thứ hai do bị cáo Phan Minh Q rủ rê, lôi kéo bị cáo lập sòng bài. Bị cáo không phải là người trực tiếp rủ rê, lôi kéo, ép buộc những bị cáo khác chơi bài. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 là có phần hơi nghiêm khắc. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạt sung công quỹ nhà nước. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Căn cứ khoản

1 Điều 54 BLHS 2015 áp dụng cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, sửa án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (Chín) tháng tù, nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giam trước đó (từ ngày 08/10/2017 đến ngày 15/12/2017) là 02 (hai) tháng (09) ngày tù, thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 06 (Sáu) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


134
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về