Bản án 63/2014/HNGĐ-PT ngày 16/04/2014 về xin ly hôn

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 63/2014/HNGĐ-PT NGÀY 16/04/2014 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 16 tháng 4 năm 2014, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2013/HNGĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2013 về việc xin ly hôn, do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 124/2013/HNGĐ-ST ngày 16/09/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 621/2014/QĐ-PT ngày 21/3/2014 giữa, các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lương Thị Thúy Hà, sinh năm 1977.

 Địa chỉ: Số 49, ngõ 109,Nguyễn Sơn, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội.

Cư trú tại: P214, tòa nhà H2, khu đô thị Việt Hưng, phố Nguyễn Cao Luyện, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Ông Brad Edward Poland, sinh năm 1965.

Địa chỉ: 19046 NE 116 Stresst Redmond Washington 98053 USA.

Địa chỉ tạm trú tại Việt Nam: Số 49, ngõ 109, Nguyễn Sơn, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phan Thị Hương Thủy.

Địa chỉ: số 768, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Người phiên dịch: Ông Nguyễn Quang Quỳnh.

Địa chỉ: Số 60, ngõ Phát Lộc, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo đơn xin ly hôn ngày 26/4/2013 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lương Thị Thúy Hà trình bày:

Bà và ông Brad Edward Poland tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ngày 03/01/2007. Sau khi kết hôn, ông Poland trở về Mỹ sinh sống, còn bà vẫn sống nhờ bố mẹ chị tại số 49 ngõ 109, Nguyễn Sơn, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Từ khi kết hôn đến nay, mỗi năm ông Poland sang Việt Nam khoảng 2 đến 3 lần và chỉ ở lại mỗi lần khoảng 02 tuần. Trước khi cưới vợ chồng có bàn bạc là ông Poland sẽ sang Việt Nam chung sống với bà hoặc ông sẽ làm thủ tục để đón chị sang Mỹ sinh sống, nhưng từ đó đến nay, ông Poland đều tìm lý do để không thực hiện. Ông Poland thường xuyên vắng mặt, không có sự chia sẻ, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, do khác biệt văn hóa và phong cách sống, ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà xin ly hôn với ông Poland.

Về con chung: Ông và ông Poland có 01 con chung là cháu Poland Khoa Sam, sinh ngày 07/10/2008. Từ khi sinh ra, cháu Sam hoàn toàn do bà Hà chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Sam không biết tiếng Anh, còn ông Poland không biết tiếng Việt, hai bố con không giao tiếp được với nhau, mặt khác ông Poland đã có 02 con với người vợ cũ, nên bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Sam và đề nghị ông Poland cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000 USD tương đương khoảng 21.000.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam (Hai mươi mốt triệu).

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà và ông Poland không nợ ai và không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, Ông Brad Edward Polan trình bày:

Việc kết hôn như bà Hà trình bày là đúng, hàng năm, ông vẫn sang Việt Nam từ 3 đến 4 lần, mỗi lần khoảng 2 đến 3 tuần. Ông không đồng ý ly hôn với Bà Hà vì Ông thấy vẫn yêu thương bà Hà.

Về con chung: Ông, bà có 01 con chung là cháu Poland Khoa Sam, sinh ngày 07/10/2008.

Trong trường hợp phải ly hôn, ông đề nghị được nuôi con chung là cháu Poland Khoa Sam, bà Hà phải cấp dưỡng nuôi con 500 USD/tháng. Trường hợp bà Hà nuôi con, ông tự nguyện dưỡng 2 triệu đồng/tháng.

 Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không nợ ai và không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 124/2013/HNGĐ-ST ngày 16/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đã căn cứ vào Điều 28, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Khoản 1 Điều 89; Điều 91, Điều 92; Điều 94; Điều 100; Điều 102; Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, quyết định:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lương Thị Thúy Hà. Bà Hà được ly hôn với anh Brad Edward Poland.

2. Về con chung: Giao cháu Poland Khoa Sam cho bà Lương Thị Thúy Hà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Poland có trách nhiệm đóng góp phí tổn nuôi con là 5 triệu đồng/tháng cho đến khi cháu Poland Khoa Sam đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Ông Poland có quyền đi lại thăm nom chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/10/2013, bị đơn, ông Brad Edward Poland có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Bị đơn vẫn yêu thương vợ thể hiện tại các Email vẫn gửi tiền nuôi con thể hiện tại các phiếu chuyển tiền và không có đủ căn cứ xác định tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Về tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ về tài sản chung của vợ chồng, cụ thể là bị đơn có đóng góp tiền xây một căn nhà ở quận Long Biên nhưng do bị đơn không hiểu pháp luật Việt Nam nên không trình bày.

Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Vì phiên tòa lần thứ nhất bị đơn vắng mặt, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự, sau đó bị đơn có đơn xin xử vắng mặt phiên tòa.

Các tài liệu trong hồ sơ vụ án, bị đơn có nhiều lời khai là vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sơ thẩm không giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là có căn cứ. Nguyên đơn trực tiếp nuôi con là đúng với quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi thẩm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, lời trình bầy, tranh luận của các bên đương sự, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác.

     XÉT THẤY

Về thủ tục tố tụng:

Ngày 26/4/2013 bà Lương Thị Thúy Hà có đơn xin ly hôn với ông Brad Edward Poland quốc tịch Mỹ đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý vụ án và đưa ra xét xử sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Ngày 9/8/2013 Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 27/8/2013 bị đơn xin hoãn phiên tòa. Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định hoãn phiên tòa ngày 27/8/2013 với lý do là “bị đơn ông Brad Edwarad Poland vắng mặt lần thứ nhất” (bút lục số 120), đồng thời cùng ngày Tòa án  quyết định mở phiên tòa lần thứ 2 vào ngày 16/9/2013, bị đơn đồng ý Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn do bị đơn đã khai tại Tòa án cấp sơ thẩm là: “ngày 16 tháng 9 và tôi có thể không tham dự được vào ngày đó... Trong trường hợp tôi không thể tham dự buổi đó vào ngày 16 tháng 9, tôi đồng ý Tòa xét xử vắng mặt” (bút lục số 115). Như vậy, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa và xin xử vắng. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với qui định của pháp luật.

Về nội dung:

Về tình cảm, Tòa án chấp cấp sơ thẩm chấp nhận đơn xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Việt Nam, thì từ ngày 01/01/2007 đến ngày 08/4/2013 ông Brad Edward Poland xuất nhập cảnh vào Việt Nam 43 lần là phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn về thời gian vợ chồng chung sống với nhau là quá ít, không có điều kiện quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, nuôi dưỡng con, tình cảm, vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.

Về nuôi con chung: Việc giao con chung của vợ chồng cho ai trực tiếp nuôi dưỡng là phải xuất phát từ quyền lợi của người con. Cháu Poland Khoa Sam sinh ngày 07/10/2008 đến nay chưa đủ 6 tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác cháu Poland Khoa Sam đang có nơi ở, nơi học ổn định thuận lợi cho việc phát triển kiến thức và mức chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cho một em bé mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định nguyên đơn trực tiếp nuôi con sau ly hôn và bị đơn đóng góp tiền nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho đến khi cháu Poland Khoa Sam đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là có căn cứ, phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung của vợ chồng: Ngay sau khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn có nhiều lời khai là: “chúng tôi không có tài sản chung nên chúng tôi không yêu cầu Tòa giải quyết” (các bút lục số 31, 45, 51). Các lời khai của bị đơn phù hợp với lời khai của nguyên đơn. Nguyên đơn và bị đơn đều khai vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Yêu cầu này là tự nguyện không trái pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đã cung cấp các tài liệu chứng minh như biên lai thu tiền, phiếu chuyển tiền, hàng và địa chỉ Emai của bị đơn là bị đơn có gửi tiền, hàng về Việt Nam cho nguyên đơn, nhưng không có căn cứ xác định là tiền bị đơn gửi về để xây nhà. Mặt khác tại giai đoạn xét xử sơ thẩm bị đơn không yêu cầu Tòa án xem xét về phần tài sản còn thể hiện tại các biên bản hòa giải, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn và bị đơn cả hai đều xác định không có tài sản chung và cũng không yêu cầu Tòa án xem xét về phần tài sản và nếu sau này bị đơn có chứng cứ, chứng minh trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng còn có tài sản chung chưa chia thì được khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

Từ các lý do như đã phân tích nêu ở trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đúng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định chung.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 30 Pháp lệnh Án phí, Lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của ông Brad Edwarad Poland.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 89 và các Điều 91, 92, 94, 100, 101, 102 và Điều 104 Luật Hôn nhân gà gia đình, xử:

1. Bà Lương Thị Thúy Hà được ly hôn ông Brad Edwarad Poland.

2. Về con chung: Giao cháu Poland Khoa Sam sinh ngày 07-10-2008 cho bà Lương Thị Thúy Hà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

3. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Brad Edward Poland có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con mỗi tháng là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho đến khi cháu Poland Khoa Sam đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

4. Về tài sản chung: Không có và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 132 Bộ Luật tố tụng dân sự và Điều 30 Pháp lệnh Án phí lệ phí Tòa án:

Ông Brad Edward Poland phải chịu án phí phúc thẩm dân sự là 200.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí thẩm 200.000 đồng mà ông Brad Edward Poland nộp tại biên lai thu số 0009407 ngày 22/10/2013 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội chuyển thành tiền án phí.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 


153
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 63/2014/HNGĐ-PT ngày 16/04/2014 về xin ly hôn

    Số hiệu:63/2014/HNGĐ-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:16/04/2014
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về