Bản án 622/2019/HNGĐ-ST ngày 27/06/2019 về tranh chấp xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 622/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CHA CHO CON VÀ YÊU CẦU CẤP DƯỠNG

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 Tòa án nhân dân quận Tân Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 781/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp về xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh A, sinh năm: 1990

Hộ khẩu thường trú: 28/30/7 đường M, phường Z, quận Tân Bình, Tp. HCM.

Địa chỉ liên lạc: 21/25 đường X, phường O, quận Tân Bình.

Bị đơn: Ông Trần Minh B, sinh năm 1989

Địa chỉ: 870/24/10 đường L, phường Z, quận Tân Bình, Tp. HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh A đối với ông Trần Minh B được Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý và bà Hiền bổ sung tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà Hiền trình bày:

Vào tháng 4/2006, bà với ông Toàn có mối quan hệ trai gái, kết quả là tháng 01/2007 bà đã sinh bé gái tên là Nguyễn Gia D, bao nhiêu năm nay anh B vô trách nhiệm và chưa thừa nhận, năm 2015 bà đã yêu cầu Công an quận Tân bình khởi tố vụ án hình sự đối với ông B, Công an quận Tân Bình đã thu lý và “Thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố” số 195 ngày 11/01/2016: không có cơ sở để xác định hành vi của ông Toàn cấu thành tội phạm “giao cấu với trẻ em”. Tuy nhiên, Công an quận Tân Bình đã tiến hành giám định ADN giữa ông B và bé Nguyễn Gia D; kết quả giám định pháp y về ADN số 1.267- 2015/ADN ngày 05/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh thì ông Toàn là cha sinh học của bé Nguyễn Gia D.

Nay bà yêu cầu Tòa án xác nhận ông Trần Minh B là cha của trẻ Nguyễn Gia D sinh ngày 31/01/2007 và yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con từ khi bé D ra đời cho đến nay là 11 năm với số tiền là 650.000.000 đồng và cấp dưỡng 2 lần đến khi bé tròn 18 tuổi. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Gia D cho đến khi thành niên.

Bị đơn, ông Trần Minh B trình bày:

Trong bản tự khai ngày 14/9/2018 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, ông B cho rằng những yêu cầu của bà A ông không chấp nhận được, ông cho biết bà A có khởi kiện ông tại Công an quận Tân Bình, Công an quận Tân Bình có làm xét nghiệm ADN, ông không được gửi kết quả xét nghiệm nên ông không biết kết quả chính xác.

Tòa án tiếp tục tiến hành triệu tập hợp lệ ông B tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để ông Toàn đến Tòa án trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng ông Toàn vẫn vắng mặt hai lần không lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tòa án đã tiếp tục tiến hành triệu tập hợp lệ ông Toàn tham gia phiên tòa xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn, bà A trình bày:

- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về ADN đã trình bày, bà giữ nguyên yêu cầu ông B phải công nhận trẻ Nguyễn Gia D, sinh ngày 31/01/2007 là con ruột của ông.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà rút lại toàn bộ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với ông B kể từ khi trẻ Nguyễn Gia D ra đời cho đến nay, bà chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông Toàn cấp nuôi trẻ Hân mỗi tháng là 2.000.000 (hai triệu) đồng vào ngày 10 dương lịch mỗi tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2019 cho đến khi trẻ D thành niên.

Bị đơn, ông B trình bày:

- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.267-2015/AND ngày 05/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh mà ông đã được xem trực tiếp tại phiên tòa hôm nay; tại bản kết luận nay kết luận ông là cha sinh học của trẻ Nguyễn Gia D; ông không có ý kiến phản đối.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông đồng ý giao trẻ Nguyễn Gia D cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 (hai triệu) đồng mỗi tháng, vào ngày 10 dương lịch mỗi tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2019 cho đến khi trẻ Hân thành niên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Tòa án nhân dân quận Tân Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm, tuy nhiên Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án có vi phạm về thời hạn xét xử vụ án được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến của về việc quan điểm giải quyết vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay hai bên đương sự thống nhất với nhau về toàn bộ những vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;

Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Minh A nộp đơn khởi kiện ông Trần Minh B “Tranh chấp về xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng”, ông B có nơi cư trú tại 870/24/10 đường L, phường Z, Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh nên thuộc thầm giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, là phù hợp với khoản 4, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

[2]. Về người tham gia tố tụng:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh A nộp đơn khởi kiện tại Tòa án “Tranh chấp về xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng” với ông Trần Minh B, nên bà A tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn là hợp lệ.

- Bị đơn: Ông Trần Minh B là người bà A khởi kiện, nên ông B tham gia tố tụng với tư cách bị đơn là hợp lệ.

[3]. Về sự tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình:

Trong vụ án này Tòa án nhân dân quận Tân Bình tiến hành xác minh nơi cư trú của ông B và thu thập chứng cứ, đối tượng tranh chấp là Bản kết luận giám định pháp y về ADN theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Viện kiểm sát quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với Điều 21, Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Nội dung tranh chấp:
Bà A Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.267-2015/AND ngày 05/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh để “Tranh chấp về xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con” đối với ông Toàn.

Đây là nội dung cần xem xét giải quyết.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu Tranh chấp về xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con như đã trình bày tại phiên tòa hôm nay.

- Ông B trình bày:

a. Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.267-2015/AND ngày 05/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh, bà A khởi kiện yêu cầu ông xác nhận trẻ Nguyễn Gia D là con ruột của ông và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông không có ý kiến phản đối.

b. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông B đồng ý giao trẻ Nguyễn Gia D cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng, vào ngày 10 dương lịch mỗi tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2019 cho đến khi trẻ D thành niên.

Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.267-2015/AND ngày 05/11/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh thì ông Trần Minh B là cha sinh học của trẻ Nguyễn Gia D với độ chính xác 99,999999, ông B cũng không có ý kiến phản đối Bản kết luận giám định pháp y về AND và đề nghị Tòa án xét xử theo pháp luật; đồng thời ông cũng đồng ý giao trẻ D cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng con và cấp dưỡng nuôi con.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh A.

3. Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị Minh A không phải chịu án phí tòa án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

- Ông Trần Minh B phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 nêu trên.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 4, khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 88, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102, Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 12, điểm a, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

TUYÊN XỬ:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh Hiền.

- Xác định ông Trần Minh B – sinh năm 1989 là cha của trẻ Nguyễn Gia Hân, sinh ngày 31/01/2007.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông B đồng ý giao trẻ Nguyễn Gia D cho bà Nguyễn Thị Minh D trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 (hai triệu) đồng mỗi tháng, thực hiện vào ngày 10 dương lịch mỗi tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2019 cho đến khi trẻ D thành niên.

Địa điểm thi hành: Tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thực hiện việc cấp dưỡng số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Cha, m trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Bà Nguyễn Thị Minh A được quyền liên hệ với cơ quan Tư pháp có thẩm quyền để làm thủ tục cải chính hộ tịch, cước lề vào giấy khai sinh của trẻ Nguyễn Gia D, sinh ngày 31/01/2007 theo quy định của pháp luật hiện hành.

3. Án xử công khai, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị bản án theo điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 622/2019/HNGĐ-ST ngày 27/06/2019 về tranh chấp xác định cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng

Số hiệu:622/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về