Bản án 62/2021/HSST ngày 02/03/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 62/2021/HSST NGÀY 02/03/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 02 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

57/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Thị S; tên gọi khác: Không; sinh năm 1975, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản L L, xã MP, thành phố Đ b p, tỉnh Đ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: không; Con ông: Giàng A L (đã chết) và con bà: Vàng Thị C, sinh năm 1957; Bị cáo sống chung như vợ chồng với ông Cứ A L (không đăng ký kết hôn); có 04 con chung, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án: có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2020 sau đó áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa: Bà Triệu Thị Hồng; là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

* Người phiên dịch: Ông Giàng A N; địa chỉ: Thôn T T, xã S P, huyện T C, tỉnh Đ(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 28/9/2020, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an xã Mường Phăng làm nhiệm vụ tại bản Lọng Luông 2, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ phát hiện Giàng Thị S đi bộ về phía tổ công tác có biểu hiện phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu S dừng lại để kiểm tra, S thò tay vào chiếc túi vải màu đen buộc ngang bụng lấy 01 gói nilon màu hồng ném xuống đất. Tổ công tác yêu cầu S nhặt gói nilon vừa ném xuống, kiểm tra bên trong có một gói nilon màu xanh chứa các cục bột màu trắng và một gói nilon màu hồng chứa các viên nén màu hồng. S khai cục bột màu trắng là Heroine, các viên nén màu hồng là Hồng phiến, S vừa mua của một người đàn ông không quen biết ở đường thuộc khu vực bản Lọng Luông 1, xã Mường Phăng với giá 500.000 đồng, mục đích để bản thân sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 29/9/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Kết luận giám định số 873/GĐ-PC09 ngày 30/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Giàng Thị S gửi giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng là 1,63 gam; mẫu viên nén màu hồng là Methampetamine, khối lượng là 4,33 gam.Vật chứng còn lại sau giám định là 1,4 gam Heroine và 3,48 gam Methampetamine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các kết luận giám định nêu trên.

2. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không quen biết bị cáo đã mua ma túy tại khu vực bản Lọng Luông 1, xã Mường Phăng với giá 500.000 đồng. Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

3. Cáo trạng số 07/CT-VKSTPĐBP ngày 23/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ N quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Giàng Thị S từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, không được học văn hóa, nhận thức pháp luật hạn chế, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo. Trong quá trình điều tra đã thực sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí Hình sự cho bị cáo.

5. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 28/9/2020, tại khu vực bản Lọng Luông 2, xã Mường Phăng, thành phố Điện Biên Phủ, Giàng Thị S đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 1,63 gam Heroine; 4,33 gam Methampetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm Cnh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

...n) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là N nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên Bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Cnh vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Ngày 01/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Bị cáo chấp hành án đến ngày 25/11/2018 ra trại.

- Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo làm nương, thu nhập không ổn định, kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án:

Khối lượng 1,4 gam Heroine và 3,48 gam Methampetamine (vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ; 02 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 chiếc túi vải màu đen có dây đeo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại di động ACE màu tím than công an thu giữ của bị cáo, là bị cáo mượn của anh Cứ A Sùng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho anh Sùng. Xét thấy việc trả tài sản là có căn cứ, do vậy HĐXX chấp nhận.

[5] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không quen bị cáo đã mua ma túy tại khu vực bản Lọng Luông 1, xã Mường Phăng với giá 500.000 đồng. Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[6] Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo: 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/9/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,4 gam Heroine và 3,48 gam Methampetamine (vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ; 02 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 chiếc túi vải màu đen có dây đeo không còn giá trị sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2021 giữa Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/3/2021).


457
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2021/HSST ngày 02/03/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:62/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/03/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về