Bản án 62/2017/HSST ngày 21/08/2017 về tội buôn lậu

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG S

BẢN ÁN 62/2017/HSST NGÀY 21/08/2017 VỀ TỘI BUÔN LẬU

Ngày 21 tháng 8 năm 2017, tại phòng xét xử, trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng S xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 61/2017/HSST, ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Phạm Ngọc S, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1987, tại Q, Nghệ An. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Đ1, xóm N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 05/12; Con ông: Phạm Ngọc B (đã chết); Và bà: Vũ Thị H (đã chết); Có 06 anh em, bị cáo là thứ 04; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1987; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 4 năm 2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Ngọc H, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1982, tại Th Nghệ An. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: K 2, phường L, thị xã Th, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 09/12; Con ông: Hoàng Ngọc Tr, sinh năm 1951; Và bà: Trần Thị Ph, sinh năm 1954; Có 04 anh em, bị cáo là thứ 03; Vợ: Đặng Thị Phương H, sinh năm 1985; con: Có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 4 năm 2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Công Ph, sinh năm 1969.

Địa chỉ: K 250, phường Qu, thị xã Th, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng S truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 19h15’ ngày 27/4/2017, tại Quốc lộ 1A, thuộc thôn Tân Th, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H bắt quả tang Phạm Ngọc S, điều khiển xe ô-tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-159.86, kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 37R-006.58, đi cùng trên xe có Hoàng Ngọc H, có hành vi vận chuyển 44 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp có trọng lượng 90kg và 05 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 100 quả/hộp có trọng lượng 22,8kg, tổng trọng lượng 112,8kg đã trừ bì. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ số pháo, tạm giữ xe ô-tô và rơ moóc.

- Phạm Ngọc S giao nộp:

+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô-tô số 018255, mang tên Công ty TNHH Hoàng Ph, 01 giấy chứng nhận kiểm định;

+ 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc số 000126, mang tên Công ty TNHH Tân Nh, 01 giấy chứng nhận kiểm định;

+ 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang mang tên Phạm Ngọc S;

+ 02 chiếc điện thoại di động trong đó có 01 chiếc nhãn hiệu OPPO màu vàng, 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 108 màu đen đều đã qua sử dụng.

- Hoàng Ngọc H giao nộp:

+ 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang tên Hoàng Ngọc H;

+ 02 chiếc điện thoại di động, trong đó 01 chiếc nhãn hiệu SAMSUNG màu xám, 01 chiếc nhãn hiệu PHILIPS màu vàng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Phạm Ngọc S và Hoàng Ngọc H nhận hợp đồng lái xe cho Công ty TNHH Hoàng Ph, ở k 250, phường Qu, thị xã Th, tỉnh Nghệ An. Ngày 25/4/2017, Công ty TNHH Hoàng Ph giao xe ô-tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-159.86, kéo theo Rơ moóc biển kiểm soát 37R-006.58 cho Phạm Ngọc S và Hoàng Ngọc H, chở hàng đi từ Nghệ An qua cửa khẩu Chi Ma, huyện

Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn sang nước Trung Quốc để giao hàng, khi đi đến Hà Nội thì Hoàng Ngọc H xuống xe đi giải quyết công việc sau đó đón xe khác đi sau, một mình Phạm Ngọc S điều khiển xe ô-tô sang nước Trung Quốc.

Chiều ngày 26/4/2017, trong khi chờ giao hàng thì Phạm Ngọc S đã nảy sinh ý định mua pháo bên nước Trung Quốc đem về Việt Nam bán kiếm lời, Phạm Ngọc S đã gọi điện cho Hoàng Ngọc H bảo mua pháo đem về bán, H nhất trí, Phạm Ngọc S tìm đến một cửa hàng bán hàng tạp hóa, gặp một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ) hỏi mua pháo, khi được người đàn ông này trả lời là có pháo bán thì S đã xin số điện thoại và hẹn người này tối sẽ quay lại mua pháo.

Khoảng 20h cùng ngày, khi Hoàng Ngọc H đến gặp Phạm Ngọc S ở bãi đỗ xe bên nước Trung Quốc, S đã gọi điện thoại cho người đàn ông gặp lúc chiều hẹn đến mua pháo, lúc này Hoàng Ngọc H ngồi cạnh đó bảo S đi mua hộ H 1tH (12 hộp) pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp và 5 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 100 quả/hộp, Phạm Ngọc S đi đến cửa hàng tạp hóa gặp người này bảo mua số lượng pháo như H đã dặn rồi bảo đem ra nơi để xe ô-tô. S gọi điện cho H thông báo người bán pháo sẽ vận chuyển đến chỗ để xe ô-tô. Hoàng Ngọc H ở xe ô-tô đợi khoảng 10 phút thì có 01 người đàn ông Trung Quốc chở đến 01 tH các tông đựng 12 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp và 01 bao tải đựng 05 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 100 quả/hộp, H trả cho người bán pháo 2.100.000đ và đem số pháo lên xe ô-tô cất giấu.

Phạm Ngọc S ở quán chờ người bán pháo quay lại và bảo người này lấy cho 02 thùng (24 hộp) và 08 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp, S quay lại chỗ xe ô-tô nói với H là bảo người bán pháo lấy cho 02 thùng pháo và 08 hộp rồi nhưng không đủ tiền trả, chỉ đủ tiền mua 01 thùng và 08 hộp, Hoàng Ngọc H nói “đã bảo người ta lấy ra rồi thì mua nốt” H lấy 1.000.000đ đưa cho S để mua 01 tH pháo, S bỏ ra 1.700.000đ được 2.700.000đ để trả cho người bán pháo.

Tổng số pháo Phạm Ngọc S đi mua được là 03 thùng (36 hộp), 08 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp và 05 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 100 quả/hộp có tổng trọng lượng là 112,8kg, trong đó S mua cho bản thân là 01 thùng (12 hộp), 08 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp trọng lượng 41kg và mua hộ H 02 tH (24 hộp) pháo nổ loại pháo hoa dàn 36 quả/hộp và 05 hộp pháo nổ loại pháo hoa dàn 100 quả/hộp trọng lượng 71,8kg.

Số pháo mua được S và H cất giấu trên xe ô-tô rồi điều khiển qua cửa khẩu Chi Ma, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng S về Việt Nam, đến 19h15’ ngày 27/4/2017 khi Phạm Ngọc S điều khiển xe ô-tô, Hoàng Ngọc H ngồi ở ghế phụ về đến đoạn đường quốc lộ 1A thuộc thôn T, xã Đ, huyện H thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật vụ án.

Bản Cáo trạng số: 65/VKS-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng S đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H về tội "Buôn lậu" theo điểm đ khoản 2 Điều 153 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa: Các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của mình và khẳng định bị cáo bị truy tố, xét xử về tội buôn lậu là đúng.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H phạm tội buôn lậu.

Về hình phạt:

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 153; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 20, 33, 45, 53 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S từ 03 năm đến 04 năm tù.

2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 153; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 20, 33, 45, 47, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc H từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 03 chiếc điện thoại di động trong đó có 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 108 màu đen, 01 chiếc nhãn hiệu SAMSUNG màu đen xám và 01 chiếc nhãn hiệu PHILIPS màu vàng.

Tịch thu tiêu hủy: 03 vỏ bao tải tơ dứa mầu xanh đã cũ; 01 vỏ bao tải tơ dứa mầu vàng đã cũ; 01 vỏ bao tải tơ dứa mầu hồng đã cũ; 01 vỏ túi nilon mầu đen đã bị rách.

Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc S: 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang mang tên Phạm Ngọc S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Ngọc H: 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang tên Hoàng Ngọc H;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

XÉT THẤY

Các bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H phạm tội "Buôn lậu" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 153 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số: 65/VKS- HS, ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng S đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H phạm tội "Buôn lậu" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 153 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức, hiểu được tác hại của pháo nổ đối với bản thân con người và đối với mọi mặt đời sống xã hội, các bị cáo cũng nhận thức được hành vi buôn lậu pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý một số hàng hóa của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục các bị cáo và răn đe, làm gương cho những người khác có ý định phạm tội tương tự.

Đây là vụ án đồng phạm nên cần xem xét đến vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội: Bị cáo Phạm Ngọc S là người khởi sướng việc mua pháo và là người trực tiếp mua pháo nên bị cáo có vai trò chính trong vụ án, bị cáo Hoàng Ngọc H có vai trò đồng phạm trong vụ án.

Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Ngọc S thuộc hộ nghèo gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Hoàng Ngọc H có bố để là ông Hoàng Ngọc Tr tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thương binh 4/4 gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Ngọc H có bố để là ông Hoàng Ngọc Tr là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015QH13, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo.

Từ những phân tích trên khi lượng hình cần quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, bảo đảm tính giáo dục và có tính răn đe, phòng ngừa chung, xét thấy hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, nhưng cũng xem xét đến nhân thân, các bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cái và thật sự hối hận về hành vi phạm tội của mình nên xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Công Ph đại diện cho Công ty TNHH Hoàng Ph, là người trực tiếp giao xe cho Phạm Ngọc S và Hoàng Ngọc H để chở hàng sang nước Trung Quốc nhưng không biết hành vi phạm tội của S và H nên không đặt vấn đề xử lý. Đối với người đàn ông bán pháo cho Phạm Ngọc S và Hoàng Ngọc H bên nước Trung Quốc do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Về vật chứng của vụ án đã làm rõ:

Toàn bộ 112,8kg pháo nổ loại pháo hoa dàn là của Phạm Ngọc S và Hoàng Ngọc H mua bên nước Trung Quốc, sau khi điều tra làm rõ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành tiêu hủy theo quy định. 01 xe ô-tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-159.86, kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 37R-006.58 cùng các giấy tờ liên quan gồm có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô-tô số 018255, mang tên Công ty TNHH Hoàng Ph, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc số 000126, mang tên Công ty TNHH Tân Nhật, 01 giấy chứng nhận kiểm định, sau khi điều tra làm rõ đã trả xe cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu.03 vỏ bao tải tơ dứa mầu xanh đã cũ; 01 vỏ bao tải tơ dứa mầu vàng đã cũ; 01 vỏ bao tải tơ dứa mầu hồng đã cũ; 01 vỏ túi nilon mầu đen đã bị rách là của các bị cáo sử dụng để đựng pháo nên tịch thu tiêu hủy.03  chiếc điện thoại di động trong đó có 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 108 màu đen là của Phạm Ngọc S, 01 chiếc nhãn hiệu SAMSUNG màu đen xám và 01 chiếc nhãn hiệu PHILIPS màu vàng là của Hoàng Ngọc H, đều đã qua sử dụng, 03 chiếc điện thoại này S và H đã sử dụng vào việc liên lạc mua pháo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang mang tên Phạm Ngọc S không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng của Phạm Ngọc S, chiếc điện thoại này S không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo. 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang tên Hoàng Ngọc H, là của bị cáo Hoàng Ngọc H nên trả lại cho bị cáo.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H phạm tội "Buôn lậu ".

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 153; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 20, 33, 45, 53 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 27 tháng 4 năm 2017.

2. Áp dụng điểm đ khoản 2, Điều 153; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 20, 33, 45, 47, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 27 tháng 4 năm 2017.

* Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41của Bộ luật hình sự; điểm a, b, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 03 chiếc điện thoại di động trong đó có 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 108 màu đen, 01 chiếc nhãn hiệu SAMSUNG màu đen xám và 01 chiếc nhãn hiệu PHILIPS màu vàng.

Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc S: 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang mang tên Phạm Ngọc S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Ngọc H: 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng FC, 01 giấy thông hành xuất nhập cảnh cùng mang tên Hoàng Ngọc H;

Tịch thu tiêu hủy: 03 vỏ bao tải tơ dứa mầu xanh đã cũ; 01 vỏ bao tải tơ dứa mầu vàng đã cũ; 01 vỏ bao tải tơ dứa mầu hồng đã cũ; 01 vỏ túi nilon mầu đen đã bị rách.

 (Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ngày 28 tháng 7 năm 2017).

*. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Phạm Ngọc S, Hoàng Ngọc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

*. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


181
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về