Bản án 61/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 61/2017/HS-ST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Yên tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2017/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T- sinh năm 1957

Tên gọi khác: không;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng;

Trình độ văn hóa: 4/10;

Họ và tên cha: Nguyễn Văn D, đã chết; Họ và tên mẹ: Tạ Thị T đã chết;

Họ và tên vợ: Dương Thị B, sinh năm 1960;

Nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang;

Con: có 03 con; con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự: không;

Hiện đang tại ngoại - có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 10/02/2016, Vi Đức C sinh năm 1980 trú tại thôn T, xã S, huyện T đi từ nhà mình đến ngôi nhà bỏ hoang của bà Q ở cùng thôn lấy 02 chiếc chiếu cói cũ đem đến vườn keo nhà ông Dương Văn T sinh năm 1957 ở cùng thôn sát cạnh nhà, C trải hai chiếc chiếu xuống nền đất tại vị trí đang có sẵn 01 tấm bạt màu trắng, một mặt in chữ bia Hà Nội và 01 chiếu nhựa đã cũ mục đích để cho mọi người đánh bạc tại vườn keo nhà ông T, sau khi trải chiếu xong thì Vi Đức C đi về nhà.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Nguyễn Hoàng A sinh năm 1976 trú tại thôn Đ, xã S, huyện T đến vườn cây keo nhà ông T thấy chiếu và bạt được trải sẵn và mọi người tập trung đông nên A đã đứng ra xóc cái để đánh bạc với mọi người bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền (công cụ đánh bạc là bát, đĩa, quân vị mà A dùng để đánh bạc cùng mọi người chưa xác định được do ai chuẩn bị).

Hình thức chơi xóc đĩa quy định: sử dụng 04 quân vị hình vuông được làm bằng tre, cả 4 quân vị đều có 01 mặt màu đen và 01 mặt mầu trắng. Người cầm cái đặt 4 quân vị vào lòng chiếc đĩa bằng sứ sau đó úp chiếc bát sứ lên; người cầm cái hai tay cầm chắc bát và đĩa rồi thực hiện động tác lắc mạnh cho các quân vị chuyển động tự do, sau đó đặt bát, đĩa xuống chiếu; người chơi đặt tiền theo hai cửa chẵn ở bên tay phải người cầm cái và cửa lẻ ở bên tay trái người cầm cái. Khi mở bát ra có kết quả: Nếu quân vị có 02 mặt màu đen và 02 mặt màu trắng, 04 mặt màu đen hoặc 04 mặt màu trắng thì người nào đặt cửa chẵn thắng; Nếu các quân vị có 01 mặt màu đen, 03 mặt màu trắng hoặc 01 mặt màu trắng 03 mặt màu đen thì người đặt cửa lẻ thắng. Số lượng tiền đặt tuỳ thuộc vào mỗi ván chơi nhưng tối thiểu là 10.000 đồng và tối đa không giới hạn. Người cầm cái sẽ lấy tiền của người thua trả cho người thắng nếu thiếu thì phải bỏ tiền của mình ra trả cho người thắng, nếu số tiền của người thua nhiều hơn số tiền phải trả cho người thắng thì người cầm cái sẽ được số tiền đó. Mức trả thưởng theo tỷ lệ 1 ăn 1 nghĩa là số tiền đặt cửa nếu trúng sẽ được lấy số tiền đã đặt cửa về và được người cầm cái trả thêm số tiền bằng với số tiền đã đặt cược. Người nhận tiền đặt cược cho người cầm cái, thu tiền của người chơi bị thua và trả tiền thưởng cho người chơi thắng trong quá trình đánh bạc thông qua người làm hồ lỳ.

Trong lúc A xóc cái có Tạ Văn H sinh năm 1972 trú tại thôn T, xã S, huyện T được mọi người nhờ làm “hồ lỳ” nghĩa là người thu số tiền đặt cửa đánh bạc dưới chiếu bị thua cho người cầm cái và trả thưởng cho người đặt cửa đánh bạc thắng; Dương Văn T sinh năm 1977 trú tại thôn H, xã S, huyện T có làm 01 bảng vị bằng bìa cây thuốc lá loại Thăng Long ngồi ở bên trái A đánh bạc với mọi người nhưng không có người tham gia đánh bảng vị. Những người tham gia đặt cửa chẵn, lẻ đánh bạc cùng với Hoàng A xác định được gồm Dương Văn T sinh năm 1963 trú tại thôn G, xã S, huyện T đặt tiền đánh bạc với Hoàng A thua hết 100.000 đồng thì không chơi nữa; Đoàn Bá M sinh năm 1981 trú tại thôn G, xã S, huyện T, sau khi Dương Văn T không có người đánh bảng vị nên đưa lại bảng vị cho M đánh bạc cùng mọi người; Đoàn Bá Đ sinh năm 1972 trú tại thôn G, xã S, huyện T có mặt tại thời điểm này và theo lời khai của Vi Đức C, Dương Văn S và Đoàn Bá M thì Đ có tham gia đánh bạc. Ngoài ra còn một số người khác tham gia đánh bạc cùng với A nhưng quá trình điều tra chưa xác định được. Tổng số tiền các đối tượng đánh bạc với nhau tại thời điểm này không xác định được.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày 10/02/2016, A không đánh bạc nữa và để lại công cụ xóc cái tại chiếu nên Nguyễn Văn S sinh năm 1981 trú tại thôn Đ, xã S, huyện T đến và vào thay A xóc cái đánh bạc cùng mọi người. Lúc này, H vẫn tiếp tục làm hồ lỳ. Trong lúc S xóc cái có Dương Văn S sinh năm 1978 trú tại thôn G, xã S, huyện T đến và sử dụng 300.000 đồng vào đánh bạc và thời điểm này Dương Văn T, Đoàn Bá M, Đoàn Bá Đ và một số đối tượng khác chưa xác định được tiếp tục đặt tiền đánh bạc. Đến khoảng 11 giờ, Vi Đức C ra vườn cây keo thấy mọi người đang ngồi đánh bạc tại chiếu do mình trải nên C bảo “cho em xin tiền trải chiếu” tức là thu tiền hồ và C đã đến thu tiền hồ của Nguyễn Văn S và Dương Văn S mỗi người 50.000 đồng và một số người nữa C không nhớ, sau đó C đi về nhà. Dương Văn S đánh bạc thêm khoảng 15 phút thì thấy hòa tiền không thắng, không thua nên đi về nhà trước. Số tiền các đối tượng đánh bạc với nhau trong thời điểm Nguyễn Văn S cầm cái Cơ quan điều tra cũng không xác định được.

Các đối tượng Nguyễn Văn S, Tạ Văn H, Dương Văn T, Đoàn Bá M, ĐoànBá Đ và một số đối tượng khác cùng nhau đánh bạc đến khoảng 13 giờ cùng ngày10/2/2016 thì Nguyễn Văn S không đánh bạc nữa và để bát đĩa, quân vị lại chiếu. Sau đó Giáp Văn C sinh năm 1979 trú tại thôn H, xã S, huyện T đến ngồi vào vị trí của S sử dụng bát, đĩa, quân vị tại chiếu làm xóc cái đánh bạc với mọi người. Khi C làm xóc cái thì Tạ Văn H tiếp tục làm hồ lỳ và được C trả công cho H 50.000 đồng. Các đối tượng đánh bạc xác định được có Dương Văn T, Đoàn Bá M, Đoàn Bá Đ và Nguyễn Văn T cùng đặt tiền đánh bạc với Giáp Văn C được một lúc thì Dương Văn S quay lại vườn keo nhà ông T và dùng số tiền 300.000 đồng tiếp tục đánh bạc với mọi người. Khi Giáp Văn C xóc cái thì Đoàn Bá Đ dùng số tiền 80.000 đồng đặt cửa được khoảng 15 phút thì thua hết tiền nên Đ không đánh bạnữa và đi về. Ngoài ra, theo lời khai của Giáp Văn C, Vi Đức C và Dương Văn S còn có Nguyễn Văn T sinh 1970 trú tại thôn G, xã S, huyện T đến và có tham gia đánh bạc bằng hình thức chung một tiếng tại cửa chẵn với Giáp Văn C trong một tiếng xóc cái với số tiền 1.000.000 đồng nhưng bị thua T phải trả cho C 1.000.000 đồng để C đưa cho H trả tiền cho những người đặt cửa thắng.

Đến khoảng gần 15 giờ cùng ngày 10/02/2016, Đào Duy T sinh năm 1975 trú tại thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đến thấy mọi người đánh bạc T cũng đặt tiền tham gia đánh bạc cùng, sau đó có thêm Tạ Văn T, sinh năm 1986 ở thôn G, xã S, huyện T; Dương Văn L, sinh năm 1962; Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 cùng ở thôn T, xã S, huyện T và Dương Văn Đ, sinh năm 1975 ở thôn G, xã S, huyện T đến tham gia đặt tiền đánh bạc cùng với C và một số đối tượng khác nữa nhưng chưa xác định được. Trong khi mọi người đang đánh bạc thì Vi Đức C tiếp tục ra và thu tiền hồ của Giáp Văn C. T và Tạ Văn T mỗi người 50.000 đồng và một số người khác C không nhớ. Tổng số tiền hồ C thu được trong ngày 10/02/2016 là 460.000 đồng rồi đi về.

Các đối tượng Giáp Văn C, Tạ Văn H, Dương Văn T, Đoàn Bá M, Dương Văn L, Tạ Văn T, Nguyễn Văn T, Dương Văn Đ và một số đối tượng khác chưa xác định được đánh bạc với nhau đến khoảng 16 giờ cùng ngày 10/02/2016 thì bị lực lượng Công an huyện Tân Yên phát hiện, bắt quả tang gồm: Giáp Văn C, Dương Văn T, Đoàn Bá M, Đào Duy T, Dương Văn L, Dương Văn Q và Phạm Văn L. Còn Tạ Văn H, Tạ Văn T, Dương Văn Đ và Nguyễn Văn T lợi dụng sơ hở đã bỏ chạy thoát.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:

- Số tiền 6.100.000 đồng trên chiếu bạc;

- 01 bát sứ cũ, đã qua sử dụng;

- 01 đĩa sứ cũ, đã qua sử dụng;

- 04 quân vị bằng que đóm, một mặt màu đen, một mặt màu trắng, thu trên chiếu bạc;

- 01 vỏ bao cây thuốc lá loại Thăng Long, một mặt màu vàng in bao bì, một mặt trắng được kẻ bằng bút màu xanh gồm chữ và số, thu trên chiếu bạc;

- 01 tấm bạt một mặt màu trắng, một mặt in chữ bia Hà Nội;

- 02 chiếu cói đã qua sử dụng, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng;

Ngoài ra còn thu giữ trên người các đối tượng những đồ vật tài sản gồm:

- Thu giữ của Giáp Văn C: số tiền 3.030.000 đồng, thu túi quần trước bên trái; Số tiền 13.800.000 đồng, thu trong giầy bên phải và 01 điện thoại Nokia X1 màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

- Thu giữ của Dương Văn T: số tiền 1.500.000 đồng; 01 Ví da màu nâu bên trong có số tiền 3.500.000 đồng, thu tại túi quần sau bên phải; Số tiền 1.210.000 đồng, thu tại túi quần phía sau bên trái.

- Thu giữ của Phạm Văn L: số tiền 1.300.000 đồng, thu tại túi áo trước bên trái; Số tiền 950.000 đồng, thu tại áo trong bên phải và 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 1.865.000 đồng, thu tại túi quần sau bên phải.

- Thu giữ của Dương Văn Q: số tiền 540.000 đồng, thu tại áo trong bên trái.

- Thu giữ của Đào Duy T: số tiền 1.000.000 đồng, thu tại túi quần trước bên phải; 01 Ví da màu nâu bên trong có số tiền 350.000 đồng; Số tiền 150.000 đồng, thu tại túi áo trong bên trái.

- Thu giữ của Đoàn Bá M: số tiền 60.000 đồng, thu tại túi áo ngực bên trái.

- Thu giữ của Dương Văn L: 01 ví da cũ bên trong có số tiền 600.000 đồng, thu tại túi áo trước bên trái, và 01 điện thoại Nokia màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Sau khi tiến hành điều tra đối với Dương Văn Q và Phạm Văn L xác định cả hai không tham gia đánh bạc nên ngày 11/2/2016 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả tự do đối với Dương Văn Q và Phạm Văn L.

Ngày 11/02/2016, Dương Văn S, Tạ Văn H đến Công an huyện Tân Yên đầu thú, Dương Văn S đã tự nguyện giao nộp lại số tiền đánh bạc là 300.000 đồng. Ngày 12/02/2016 Vi Đức C đến Công an huyện Tân Yên đầu thú. Ngày19/02/2016 Tạ Văn T đến Công an huyện Tân Yên đầu thú. Ngày 23/02/2016Đoàn Bá Đ đến Công an huyện Tân Yên đầu thú khai nhận hành vi đánh bạc của mình.

Dương Văn Đ sau khi phạm tội đã bỏ trốn vào tỉnh Bình Dương làm ăn sinh sống. Đến ngày 30/6/2017, khi Dương Văn Đ đang trên đường về nhà thì bị Công an phường C, quận L, thành phố Hà Nội bắt theo lệnh truy nã và bàn giao cho Công an huyện Tân Yên để điều tra theo thẩm quyền.

Nguyễn Văn T sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương đến khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai sinh sống cùng gia đình con trai và không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác. Đến ngày 13/10/2017 Nguyễn Văn T đến công an huyện Tân Yên đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình trong ngày 10/02/2016 (Nguyễn Văn T khai mang theo số tiền 200.000 đồng nhưng phải nộp cho Vi Đức C 50.000 đồng tiền hồ, còn lại số tiền 150.000 đồng đặt cửa tham gia đánh bạc cùng với mọi người từ khoảng hơn 13 giờ đến khi Công an huyện Tân Yên phát hiện bắt quả tang T đã bị thua hết tiền).

Cơ quan điều tra đã xác định được tổng số tiền Nguyễn Văn T cùng các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 9.620.000 đồng bao gồm: số tiền 6.100.000 đồng thu giữ trên chiếu khi bắt quả tang, số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của Dương Văn T là tiền T dùng vào việc đánh bạc, số tiền 1.000.000 đồng, thu tại túi quần trước bên phải và số tiền 150.000 đồng của Đào Duy T, trong đó 1.000.000 đồng là tiền T nhặt tại chiếu bạc khi bị bắt quả tang và 150.000 đồng là tiền còn lại trong tổng số 800.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, số tiền 60.000 đồng thu giữ của Đoàn Bá M là tiền còn lại trong số 150.000 đồng M dùng để đánh bạc, số tiền 300.000 đồng do Dương Văn S giao nộp đã dùng vào việc đánh bạc, số tiền 460.000 đồng do Vi Đức C thu tiền hồ và số tiền 50.000 đồng do C trả tiền công cho Tạ Văn H làm hồ lỳ.

Đối với Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn S có hành vi xóc cái đánh bạc với mọi người vào thời điểm từ khoảng 09 giờ đến 13 giờ ngày 10/02/2016 trước khi Giáp Văn C tiếp nhận việc xóc cái, tuy nhiên quá trình điều tra, Hoàng A và S không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ kết luận hành vi đánh bạc của Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Văn S tại thời điểm các đối tượng thực hiện hành vi xóc cái đã đủ lượng tiền để truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa nên quyết định tách phần tài liệu liên quan đến đối tượng Nguyễn Hoàng A và Nguyễn Văn S khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Trong quá trình điều tra các bị can còn khai: ngày 10/02/2016 còn có Nguyễn Văn M, sinh năm 1941; Nguyễn Thị P, sinh năm 1978; Dương Thị Y, sinh năm 1982 cùng ở thôn G, xã S, huyện T; Dương Văn T, sinh năm 1977 ở thôn H, xã S, huyện T; Kiều Thị B, sinh năm 1982; Giáp Văn M, sinh năm 1966; Dương Văn T, sinh năm 1978 cùng ở thôn T, xã S, huyện T; Nguyễn Văn P sinh năm 1973 ở thôn Đ, xã S, huyện T; Nguyễn Văn T sinh năm 1977 ở thôn T, xã S, huyện T có mặt tại xới bạc và tham gia đánh bạc. Cơ quan điều tra đã tổ chức điều tra và áp dụng các hoạt động điều tra cần thiết nhưng đến nay các đối tượng trên đều vắng mặt tại địa phương hoặc không hợp tác làm việc nên không đủ căn cứ xác định các đối tượng trên thực hiện hành vi đánh bạc và đánh bạc trong thời điểm nào, đánh bạc với những ai và với số tiền bao nhiêu. Cơ quan điều tra đã quyết định tách phần tài liệu liên quan các đối tượng nêu trên khỏi hồ sơ để điều tra khi nào đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi đánh bạc của Đoàn Bá Đ: do có sự thay đổi về chính sách pháp luật, nên ngày 11/9/2016 Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Đoàn Bá Đ, cùng ngày 11/9/2016 Trưởng Công an huyện Tân Yên quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đoàn Bá Đ bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn T: kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn T đến địa điểm đánh bạc khoảng hơn 13 giờ ngày 10/02/2016 sau đó sử dụng 1.000.000 đồng tham gia đánh bạc một ván rồi ra về; số tiền mà T và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc tại thời điểm này được xác định là 3.530.000 đồng. Ngày 11/9/2016 Công an huyện Tân Yên quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

Tại cáo trạng số 61/KSĐT ngày 08/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Tân Yên để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự;

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của những người làm chứng, với biên bản bắt quả tang, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ khẳng định:

* Về tội danh:

Khoảng 16 giờ ngày 10/02/2016, bị cáo Nguyễn Văn T đã cùng với Giáp Văn C, Dương Văn T, Đoàn Bá M, Tạ Văn H, Tạ Văn T, Đào Duy T, Dương Văn L và một số người khác tham gia đánh bạc ăn tiền tại vườn keo của gia đình ông Dương Văn T ở thôn T, xã S, huyện T, Bắc Giang dưới hình thức chơi "xóc đĩa”. Số tiền mà bị cáo cùng mọi người sử dụng vào việc đánh bạc là 9.620.000 đồng;

Hành vi bị cáo tham gia đánh bạc trái phép với mục đích được thua bằng tiền mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh, nếp sống xã hội chủ nghĩa trong xã hội nói chung và trong địa bàn huyện Tân Yên nói riêng. Hành vi tham gia đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội do bị cáo cố ý thực hiện. Tại thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo đã là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tổng số tiền mà bị cáo tham gia đánh bạc cùng với các đối tượng khác là 9.620.000 đồng (trên 5.000.000 đồng) nên đã có đủ căn cứ khẳng định bị cáo phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự;

Các bị cáo Vi Đức C, Giáp Văn C, Tạ Văn H, Dương Văn T, Đoàn Bá M, Dương Văn S, Đào Duy T, Dương Văn L, Tạ Văn T là những người đã tham gia chơi bạc cùng với bị cáo nhưng đã được xét xử bằng bản án số 44/2017/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2017 và Dương Văn Đ đã được xét xử bằng bản án số 53/2017/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

* Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

Trong quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có thời gian tham gia quân đội 01 năm từ tháng 10 năm 1976 đến tháng 9 năm 1977. Sau khi bị truy nã, bị cáo đã ra đầu thú. Mẹ đẻ bị cáo là bà Tạ Thị T được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì năm 1997. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, h khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo;

* Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, về vai trò, về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có tham gia chơi bạc vào buổi chiều ngày 10/02/2016 cùng với các bị cáo khác nhưng số tiền tham gia chơi bạc không nhiều, bị cáo lại có nơi thường trú rõ ràng và được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự nên không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo hưởng ántreo cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2013/NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản2, 3 Điều 30, khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự.

* Về lãi suất chậm thi hành án: kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không nộp được số tiền phạt là hình phạt bổ sung nêu trên thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;

* Về vật chứng: vật chứng trong vụ án đã được xem xét xử lý bằng bản án số 44/2017/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết;

* Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

* Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tạiĐiều 231, khoản 1 Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự;

Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bản cáo trạng số 61/KS ĐT ngày 08 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;

Kiểm sát viên đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ; Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Đánh Bạc”.

2. Áp dụng: khoản 2, 3 Điều 30; điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60; khoản 1, khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đã sửa đổi bổ sung năm 2009;

3. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 06 ( sáu)tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Hình phạt bổ sung: phạt 3.000.000 đồng ( ba triệu đồng chẵn) sung quỹ nhà nước;

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

4. Về lãi suất chậm thi hành án: áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không nộp được số tiền phạt là hình phạt bổ sung nêu trên thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất 10%/năm của số tiền chậm nộp cho đến khi nộp xong.

5. Về án phí: áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTNQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

6. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 231; khoản 1 Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

351
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2017/HS-ST ngày 29/11/2017 về tội đánh bạc

Số hiệu:61/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/11/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về