Bản án 60/2019/HS-ST ngày 05/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 60/2019/HS-ST NGÀY 05/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

Dương T, sinh ngày 18 tháng 01 năm 1991 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình đ ộ văn hoa : Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương B và bà Nguyễn H; vợ con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Lương Tr, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 24/5/2019 Dương T đi từ nhà đến thôn C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, để dự đám cưới bạn và gặp Lương Tr. Sau tiệc cưới Tr rủ T đi chơi rồi về nhà Tr ngủ. Sáng ngày 25/5/2019 sau khi ăn sáng xong Tr và T đi về nhà Tr. Tr vào phòng của Tr ngủ tiếp, T ngồi ngoài phòng khách một lúc rồi cũng vào nằm cạnh Tr. Do điện thoại của T hết pin nên T gọi Tr dậy, mượn điện thoại nhãn hiệu Sony Xperia XZ1 màu đen của Tr để nhắn tin. Sau đó, T để điện thoại ở trên giường và ngủ đến khoảng 10 giờ 30 phút thì thức dậy, thấy Tr vẫn ngủ. T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại của Tr mang về sử dụng. T dùng tay phải lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Do điện thoại có mật khẩu không mở được nên khoảng 20 giờ cùng ngày T mang chiếc điện thoại đến cửa hàng của V, ở, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, T nói với Vũ điện thoại do T vừa nhặt được, nhờ V mở khóa máy và cho V thông tin, số điện thoại của T để khi nào mở được khóa thì V gọi T đến lấy.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2019, Hội đồng định giá tài sản kết luận: Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia XZ1 màu đen là 3.100.000 đồng.

Ngày 07/6/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lương Tr chiếc điện thoại Sony Xperia XZ1 màu đen. Ngày 27/6/2019 Lương Tr có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T và không yêu cầu phải bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSCL ngày 15 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng đã truy tố bị cáo Dương T tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm buộc tội bị cáo như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương T phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng bị thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 5 năm 2019, tại thôn C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Dương T đã có hành vi trộm cắp tài sản 01 (một) chiếc điện thoại di động Sony Xperia XZ1 màu đen có trị giá 3.100.000 đồng (ba triệu, một trăm nghìn đồng) của bị hại anh Lương Tr. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo Dương T đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, quyền này được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s (hai tình tiết giảm nhẹ) khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Xét thấy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tài sản trộm cắp giá trị không lớn nên xử phạt bị cáo ở mức đầu khung là phù hợp. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, hồ sơ thể hiện bị cáo từ trước tới nay chấp hành tốt chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên chưa cần thiết áp dụng hình phạt tù giam mà cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh thể hiện bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với điện thoại nhãn hiệu Sony Xperia XZ1 màu đen, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương T, 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Bị cáo Dương T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2019/HS-ST ngày 05/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:60/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về