Bản án 60/2018/DS-ST ngày 19/09/2018 về tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư

TÒA ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN X, TỈNH L

BẢN ÁN 60/2018/DS-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỢP TÁC ĐẦU TƯ

Ngày 19/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện X mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2018/TLST- DS, ngày 11 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐXXST-DS, ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1981. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường 14, quận TB, thành phố Hồ Chí Minh.

Hộ khẩu hiện nay: phường 14, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Nguyễn Hồ Z, sinh năm 1976. Địa chỉ: quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị đơn: Công ty TP.

Địa chỉ cũ: phường 2, quận 11,thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ hiện nay: phường 10, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật là: Ông Lầu Nam T– Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: xã TT, huyện CB, tỉnh TG.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty ML. Địa chỉ: ấp 3, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh LA.

Người đại diện theo pháp luật là: Ông Võ Văn T, sinh năm 1959. Địa chỉ: phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

- Cục thi hành án dân sự tỉnh LA.

Địa chỉ: ấp BN, xã BT, thành phố TA, tỉnh LA.

Người đại diện theo pháp luật là: Ông Bùi Phú H– Cục trưởng

 (Ông Z, ông Đ có mặt. Các đương sự còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Hồ Z trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Ngày 16/4/2009, ông T có ký 03 “Hợp đồng hợp tác đầu tư” với Công ty TP về việc mua nền đất dự án khu dân cư “Everluck Residence” tại thị trấn TT, huyện TT, tỉnh LA do Công ty TP làm chủ đầu tư. Số nền: 03, Mã nền: I-25; I- 26; I-27. Tổng giá trị hợp đồng 495.000.000đ. Nền I-25: Ông T đóng ngày 16/4/2009 là 66.000.000đ, ngày 06/10/2009 là57.750.000đ. Tổng cộng là  123.750.000đ tương đương 75% giá trị hợp đồng.

Nền I-26; I-27: Ngày 16/4/2009, ông T đã đóng đủ cho Công ty TP mỗi nền là 66.000.000đ, tương đương 40% giá trị hợp đồng.

Tuy nhiên, đến nay Công ty TP vẫn chưa giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho ông T. Hiện tại, Công ty TP đã chuyển nhượng toàn bộ dự án cho một nhà đầu tư mới nhưng chưa có sự đồng ý và không thông báo với ông T. Như vậy, Công ty TP đã không thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết.

Do vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh LA hủy 03 Hợp đồng hợp tác đầu tư số …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-25); …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-26); …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-27) cùng ngày 16/4/2009 và Công ty TP phải tiến hành trả lại số tiền đã đóng là: 255.750.000đ và bồi thường như sau:

+Nền I-26 = I-27. Lãi suất 1%/tháng đối với số tiền đã đóng bắt đầu từ ngày 30/4/2010 đến ngày 19/9/2018 là 3.064 ngày = 66.000.000đ x 1%/tháng x 3.064 ngày = 67.408.000đ.

+Nền I-25: Lãi suất 1%/tháng tính từ 30/4/2010 đến 19/9/2018 là 3.064 ngày = 123.750.000đ x 1%/tháng x 3.064 ngày = 126.390.000đ.

Số tiền ông Tyêu cầu Công ty TP phải trả là: (67.408.000đ x 2) +126.390.000đ + 255.750.000đ =  516.956.000đ.

* Bị đơn Công ty TP do ông Nguyễn Phước Đ làm đại diện trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Công ty TP thừa nhận lời trình bày của ông Trần Quốc T và người đại diện của ông Tvề thời gian, diễn biến sự việc ký kết 03 Hợp đồng hợp tác đầu tư số …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-25); …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-26); …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-27) cùng ngày 16/4/2009 giữa ông T và

Công ty TP là đúng. Số tiền Công ty TP đã nhận của ông T là 255.750.000đ.

Do không có đủ điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng như đã thỏa thuận và tháng 6/2018 Công ty TP đã chuyển nhượng dự án lại cho công ty MLdo ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật. Việc chuyển nhượng dự án “Everluck Residence” là để đảm bảo cho việc thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực mà Công ty TP phải thi hành án. Việc chuyển nhượng dự án là hợp pháp và đã được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh LA.

Nay, ông T khởi kiện yêu cầu hủy 03 hợp đồng nêu trên Công ty TP đồng ý.

Về việc giải quyết hậu quả hợp đồng: Nền I-25: Công ty TP chỉ đồng ý trả cho ông Tsố tiền đã đóng là 123.750.000đ, không đồng ý phạt hợp đồng do căn cứ vào mục 2.4 và 2.5 Điều 2 hợp đồng thì ông T đã không đóng tiếp 20%, nên Công ty TP không đồng ý bồi thường. Nền I-26, I-27: Công ty TP không đồng ý trả tiền đã đóng cho ông T, do ông T không đóng đợt 2. Công ty đã thông báo cho ông T đóng tiền vào ngày 05/4/2011 và có phiếu báo phát, có chữ ký nhận của ông T. Ông T đã được Công ty TP thông báo đóng tiền đợt 2 nhưng không thực hiện nên xem như hợp đồng đã được thanh lý.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Công ty ML do ông Võ Văn T là người đại diện trình bày tại văn bản ngày 15/8/2018 và ngày 31/8/2018 có nội dung như sau: Công ty ML là người mua tài sản kê biên để đảm bảo thi hành án đối với các nghĩa vụ phải thi hành của Công ty TP là thửa đất ODT số 196, tờ bản đồ số 2, tọa lạc ấp 3, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh LA thông qua Cục thi hành án dân sự tỉnh LA, được Ủy ban nhân dân tỉnh LA chấp thuận tại văn bản số 2172/UBND- KT ngày 28/5/2018; Văn bản số 3155/UBND-KT ngày 24/7/2018 và đã thanh toán tiền xong cho Cục thi hành án dân sự tỉnh LA.

Các tranh chấp liên quan đến Công ty TP của dự án này công ty ML không liên quan và không có nghĩa vụ, trách nhiệm gì. Công ty ML xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

- Cục thi hành án dân sự tỉnh LA: Tại công văn số 290/CTHADS-NV ngày 05/7/2018 và công văn số 357/CTHADS-NV ngày 13/8/2018 của Cục thi hành án tỉnh LA có nội dung như sau: Ngày 23/5/2018, Công ty TP có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân tỉnh LA, Cục thi hành án dân sự tỉnh LA và các Sở ban ngành có liên quan xin được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 196, tờ bản đồ số 2, tọa lạc ấp 3 Nhà

Thương, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh LA và tài sản trên đất đã bị kê biên để thi hành án. Toàn bộ số tiền chuyển nhượng được đã chuyển cho Cục thi hành án quản lý. Người nhận chuyển nhượng là ông Huỳnh Văn M.

Vào ngày 31/5/2018, Sở kế hoạch đầu tư tỉnh LA cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty ML do ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật, ông Huỳnh Văn M là thành viên.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, các bên thống nhất số tiền chuyển nhượng 200.000.000.000đ, công ty ML trong đó có ông M là thành viên gửi tiền vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự tỉnh LA để đảm bảo cho các bản án, quyết định có hiệu lực.

Các bên thống nhất ngày 21/6/2018 giao nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và các hồ sơ liên quan. Công ty ML và ông M đã nộp đủ tiền cho Cục thi hành án dân sự tỉnh LA để xây dựng phương án chi trả tiền thi hành án.

Cục thi hành án dân sự tỉnh LA thông báo đến Tòa án nhân dân huyện TT là đại diện Cục thi hành án xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng.

* Đạ i di ện VKS nhân dân huyện  T phát biểu:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết sơ thẩm vụ án Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, yêu cầu hủy hợp đồng đã ký kết giữa ông T và Công ty TP; yêu cầu bồi thường thiệt hại nêu trên của ông T là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng:

Tranh chấp giữa ông Trần Quốc T với Công ty TP là tranh chấp về hợp đồng mua bán công trình xây dựng nền nhà ở. Căn cứ vào địa chỉ đất tranh chấp thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện công ty ML, Cục thi hành án tỉnh LA có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về nội dung:

Theo lời trình bày của người đại diện ông T và đại diện Công ty TP cùng với tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định: Ngày 16/4/2009, ông Tcó ký 03 “Hợp đồng hợp tác đầu tư” số …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-25); …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-26); …/HĐHTĐT_KDC/LA (Mã nền: I-27), mỗi nền có diện tích 100m2, nằm trong dự án khu dân cư Everluck Residence tại thị trấn Thủ Thừa, huyện TT, tỉnh LA do Công ty TP làm chủ đầu tư.

Nền I-25: Ngày 16/4/2009, ông T đóng là 66.000.000đ, ngày 06/10/2009 đóng 57.750.000đ. Tổng cộng là 123.750.000đ, tương đương 75 % giá trị hợp đồng.

Nền I-26; I-27: Ngày 16/4/2009, ông T đã đóng cho Công ty TP mỗi nền là 66.000.000đ, tương đương 40 % giá trị hợp đồng.

Thời điểm giao nền dự kiến là cuối năm 2009, nhưng Công ty TP không giao được do chưa xây dựng cơ sở hạ tầng và đã chuyển nhượng toàn bộ dự án lại cho công ty ML. Ông T và đại diện của Công ty TP thống nhất hủy 03 Hợp đồng hợp tác đầu tư nêu trên.

Về phần bồi thường hợp đồng:

Ông Z cho rằng ông Tkhông đóng tiền các đợt tiếp theo là do các lô đất mà Công ty TP bán cho ông Tchưa được lên nền, không có cơ sở hạ tầng như Công ty TP đã cam kết. Ông Tcó tìm đến Công ty TP để giải quyết, nhưng không gặp được người có thẩm quyền mà chỉ gặp được nhân viên. Lỗi hoàn toàn là do Công ty TP chứ không phải do ông T.

Đại diện Công ty TP đồng ý trả cho ông T số tiền đã đóng của nền I-25 là 123.750.000đ, không đồng ý phạt hợp đồng do căn cứ vào mục 2.4 và 2.5 Điều 2 hợp đồng ông T đã không đóng tiếp 20% hợp đồng nên công ty không đồng ý bồi thường.

Còn nền I-26, I-27 thì Công ty TP không đồng ý trả tiền cho ông T do ông T không đóng đợt 2. Công ty TP đã có thông báo số 166/TPC/PKD, 167/TPC/PKD cùng ngày 05/4/2011 về việc quá hạn góp vốn đợt 2 của hợp đồng số 0171A/HĐHTĐT_KDC/LA ký ngày 16/5/2009, dự án Everluck

Residence và phiếu báo phát ngày 06/4/2011 gửi cho ông Trần Quốc T chứng minh việc đã thông báo cho ông T đóng tiền nền I-26, I-27, nhưng ông T không thực hiện thì xem như hợp đồng tự nhiên chấm dứt theo khoản 2.5 Điều 2 của hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Hội đồng xét xử xét thấy, 03 hợp đồng của ông T là hợp đồng không số được ký ngày 16/4/2009 chứ không phải hợp đồng có số và ngày 16/5/2009 như trong thông báo của Công ty TP cung cấp. Ngoài ra, phiếu báo phát ghi địa chỉ ông Trần Quốc T là “869 đường 3/2 phường 7, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”. Địa chỉ này không đúng với địa chỉ của ông T đã ghi trong hợp đồng cũng như địa chỉ hiện tại, cũng không có bất cứ tài liệu nào thể hiện ông T đã cung cấp cho Công ty TP địa chỉ trên để liên lạc. Ngoài ra, người đại diện của ông T không thừa nhận chữ ký và chữa viết tên trong phiếu báo phát là của ông T. Do đó, lời trình bày của đại diện bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, thực chất hợp đồng ký kết giữa ông T và Công ty TP là hợp đồng mua bán công trình xây dựng nền nhà ở. Theo Điều 194 Luật Đất đai và khoản 1 Điều 39 Luật Kinh doanh bất động sản quy định điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc dự án nhà ở phải có các công trình hạ tầng tương ứng với nội dung và tiến độ của dự án đã được phê duyệt. Công ty TP chưa làm hoàn chỉnh được hạ tầng nên không đủ điều kiện để giao nền và tách chuyển quyền sử dụng đất cho bên mua. Do đó, lỗi làm cho hợp đồng không thực hiện được là do Công ty TP.

Theo mục 2.7 của hợp đồng thì “Nếu quá 3 tháng kể từ thời điểm giao nền đã thỏa thuận mà Công ty TP chưa giao thì chịu phạt lãi 1%/tháng tính trên số tiền ông Tđã đóng. Theo mục 2.8 của hợp đồng thì ngoại trừ chấm dứt hợp đồng theo mục 2.2, 2.3 thì mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng thì Công ty TP bồi thường 100% số tiền ông Tđã đóng”. Ông T chỉ yêu cầu bồi thường 1%/tháng là có lợi cho bị đơn. Do đó, yêu cầu bồi thường của ông T là có căn cứ, phù hợp với nội dung các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và quy định tại Điều 423, Điều 427 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

Như vậy Công ty TP phải trả cho ông T số tiền đã nộp của 3 hợp đồng là 255.750.000đ, phạt hợp đồng 261.206.000đ. Tổng cộng là 516.956.000đ

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/7/2018 ông Nguyễn Hồ Z là người đại diện cho ông T có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa số tiền 553.949.652đ là tiền chuyển nhượng dự án Everluck Residence của Công ty TP đang được Cục thi hành án dân sự tỉnh LA quản lý và gửi giữ tại Kho bạc tỉnh LA để đảm bảo thi hành án.

Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2018/QĐ-BPKCTT ngày 18/7/2018. Nay, đại diện ông T vẫn yêu cầu tiếp tục quyết định này để đảm bảo thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của đại diện nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Từ các phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ chấp nhận như lời đê nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa.

 [6] Về tiền án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì Công ty TP phải chịu toàn bộ tiền án phí là 25.578.240đ. Ông T không phải chịu tiền án phí, hoàn trả ông T tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 39 Luật Kinh doanh bất động sản, Điều 194 Luật Đất đai, Điều 423, Điều 427 Bộ luật dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc T đối với Công ty TP.

Hủy Hợp đồng hợp tác đầu tư số …/HĐHTĐT_KDC/LA, ngày 16/4/2009 (Mã nền: I-25);

Hủy Hợp đồng hợp tác đầu tư số …/HĐHTĐT_KDC/LA, ngày 16/4/2009 (Mã nền: I-26);

Hủy Hợp đồng hợp tác đầu tư số …/HĐHTĐT_KDC/LA, ngày 16/4/2009 (Mã nền: I-27)  (Ba hợp đồng trên đã được ký giữa Công ty TP với ông Trần Quốc T).

Buộc Công ty TP phải trả ông Trần Quốc T số tiền là 516.956.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, Công ty TP phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TP phải chịu 25.578.240đ án phí sung công quỹ Nhà Nước.

Ông Trần Quốc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Trần Quốc T 13.900.000 tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003466, ngày 06/7/2018 và biên lai thu số 0003872 ngày 19/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TT, tỉnh LA.

3/ Tiếp tục thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2018/QĐ-BPKCTT, ngày 18/7/2018 để đảm bảo thi hành án.

4/ Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.


174
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2018/DS-ST ngày 19/09/2018 về tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư

Số hiệu:60/2018/DS-ST 
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về