Bản án 60/2017/HSST ngày 31/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 60/2017/HSST NGÀY 31/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2017/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/HSST- QĐXX ngày 19 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Văn H, sinh năm 1975 tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; bố đẻ: Ông Bùi Văn K, sinh năm 1947; mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1950; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 03/3/1999 nhập ngũ đến ngày 02/02/2001  xuất ngũ về địa phương. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 124/KLGĐ ngày 04/5/2017 của Viện pháp y tâm thần Trung ương- Bộ y tế, kết luận: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Bùi Văn H có biểu hiện hội chứng nghiện chất có thuốc phiện trên người chậm phát triển tâm thần nhẹ. Tại các thời điểm trên, Bùi Văn H hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bị tạm giữ từ ngày 04/11/2016, chuyển tạm giam ngày 10/11/2016 đến ngày01/4/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1950

Trú quán: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Ngọc T- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình

(Bà B, ông T đều có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 15 phút, ngày 03/11/2016 tại đường thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của công an huyện Quỳnh Phụ đã phát hiện Bùi Văn H đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động tội phạm về ma tuý nên đã yêu cầu H về trụ sở UBND xã  H, huyện Q để điều tra làm rõ. Tại đây, trước sự chứng kiến của người làm chứng, tiến hành kiểm tra thu tại túi áo ngực bên trái của H đang mặc 01 túi nilông bên trong có 05 gói nhỏ (03 gói có đặc điểm ngoài gói bằng lớp giấy màu hồng, 02 gói có đặc điểm ngoài gói bằng lớp giấy màu xanh), bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Bùi Văn H khai nhận: Do nghiện ma tuý nên khoảng 20 giờ 15 phút ngày 03/11/2016, H đi bộ từ nhà ra trục đường liên xã rồi đi xe ôm của một người không quen biết đến thị trấn C, huyện Q mục đích mua ma tuý về sử dụng. Khi đến chợ thị trấn C, H xuống xe đi bộ vào một ngõ nhỏ thuộc địa phận thôn L, xã H, huyện Q thì gặp và mua  của một người đàn ông khoảng 35 tuổi không quen biết 01 túi ni lông bên trong có 05 gói ma tuý với số tiền 1.000.000 đồng. H bỏ túi ni lông vào trong túi áo ngực bên trái rồi đi bộ ra phía chợ thị trấn C để thuê xe ôm về thì bị công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.Bản cáo trạng số 59/KSĐT ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; các điểm n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều  33, 45 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ vật chứng gồm 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và xin giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo đều có ý kiến thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo; người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Bùi Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào thời điểm khoảng 21 giờ 15 phút ngày 03/11/2016 và bị bắt quả tang với số lượng 05 gói ma tuý là Hêrôin có trọng lượng 0,4804 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Quỳnh Phụ lập ngày 03/11/2016, biên bản niêm phong vật chứng; bản kết luận giám định số 373/KLGĐ-PC54 ngày 04/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của người làm chứng và toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý và có biểu hiện hội chứng nghiện chất có thuốc phiện trên người chậm phát triển tâm thần nhẹ; bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Chính vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là con của người hoạt động kháng chiến có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hoá học nên bị cáo bị bệnh chậm phát triển tâm thần. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm n, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam, có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Huân chương chiến sĩ vẻ vang nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Đánh giá việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo, thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, thì cần áp dụng theo khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo, cho bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản . Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma tuý bị cáo có, do không xác định được người đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói Hêrôin có trọng lượng 0,4804 gam, sau khi giám định, cơ quan giám định đã hoàn mẫu vật giám định trong 01 phong bì niêm phong ghi số 373/KLGĐ-PC54 ngày 04/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, cần tịch thu để tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, các điểm n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 45, 33 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án và được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam là 04 (Bốn) tháng 29 (Hai mươi chín) ngày  (từ ngày 04/11/2016 đến ngày 01/4/2017).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sựTuyên tịch thu để tiêu huỷ vật chứng là Hêrôin đã thu giữ được niêm phong trong 01 phong bì hoàn mẫu vật ghi số 373/KLGĐ- PC54 ngày 04/11/2016 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình gồm: 0,3840 gam mẫu gửi giám định và bao gói. Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 12/7/2017

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án

Bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo và người bào chữa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.


111
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về