Bản án 60/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 60/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 57/2017/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tuấn A, sinh năm 1991; ĐKHKTT, nơi ở: Xóm N, xã X, huyện T, tỉnh Nam Định; Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ Phạm Văn S ( đã chết); mẹ đẻ Vũ Thị K, sinh năm 1964;

Tiền án, tiền sự : Không có.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2017. Bị cáo Phạm Tuấn A có mặt tại phiên Tòa.

- Người bị hại: Anh Triệu Văn T, sinh năm 1973; Trú tại: Xóm N, xã X, huyện T, tỉnh Nam Định (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Vũ Viết T, sinh 11/9/2000; Trú tại: Xóm N, xã X, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của Vũ Viết T là ông Vũ Viết U, sinh năm 1968; Trú tại: Xóm N, xã X, huyện T, tỉnh Nam Định là bố Vũ Viết T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 09/7/2017, Phạm Tuấn A và Vũ Viết T đi chơi, qua nhà anh Triệu Văn T thấy khóa cửa. Tuấn A rủ T đột nhập vào nhà anh T trộm cắp tài sản, T đồng ý. Biết nhà anh T có Camera ở trước nhà, nên Tuấn A bảo T đi về ngõ sau, trèo tường vào. Do sợ để lại dấu vân tay, nên Tuấn A đã về nhà lấy hai đôi gang tay đưa cho T một đôi, còn một đôi Tuấn A đeo. Sau đó Tuấn A và T trèo tường vào nhà anh T, xuống phòng khách. Tuấn A bật đèn pin điện thoại để lấy ánh sáng, thì phát hiện nhà anh T có 02 camera. Tuấn A Tháo được một camera, còn một camera treo ở trên cao nên không tháo được. Tuấn A bảo T, tháo dây lấy cây máy vi tinh để bàn hiệu Asus, mang lên gác xép để. Tuấn A đi xuống gian sửa xe máy lấy chìa khóa để trên mặt tủ, mở khóa tủ lấy được 1.700.000đ, giấu trong người. Sau đó Tuấn A lấy hai tô vít của nhà anh T, đưa cho T một cái, rồi cả hai vào phòng ngủ, phá két sắt lấy được 15.300.000đ. T cầm tiền mang lên cầu tháng để. Tuấn A sợ để lại dấu chân, nên mang nước vào dội rửa dấu chân. Sau khi lấy được số tiền 17.000.000đ, 01 cây máy vi tính và 01 mắt camera cả hai đi ra ngoài bằng lối cũ. Tuấn A và T ra nhà nghỉ Đại Nam, thuộc xã Nghĩa An, huyện Nam Trực ngủ, đến sáng hôm sau Tuấn A để lại cho T 1.000.000đ để trả tiền phòng, còn giữ lại tiêu xài cá nhân. Ngày 14/7/2017 Tuấn A đến công an huyện Nam Trực đầu thú.

Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực đã thu giữ: 01 chiếc mắt camera, 01 cây vi tính để bàn hiệu Asus và 02 tô vít.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21 ngày 18/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định kết luận: 01 chiếc mắt camera có trị giá 590.000đ; 01 cây vi tính để bàn, hiệu Asus có trị giá:

630.000đ.

Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực đã trả lại cho anh T 01 mắt camera, 01 cây máy vi tính và 02 tô vít. Gia đình bị cáo Phạm Tuấn A và Vũ Viết T đã bồi thường số tiền 17.000.000đ cho anh T. Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa, anh T không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Bị cáo Phạm Tuấn A bị Viện kiểm sát huyện Nam Trực truy tố tại bản cáo trạng số: 57/CT - VKS ngày 05 tháng 9 năm 2017 và tại phiên tòa đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm n khoản 1 Điều 48 Bộ Luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Tuấn A nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Phạm Tuấn A trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của Vũ Viết T, lời khai của người bị hại; vật chứng của vụ án; bản kết luận số 21 ngày 18/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có cơ sở xác định khoảng 21 giờ ngày 09/7/2017 lợi dụng anh Triệu Văn T, trú tại Xóm N, xã Điền X, huyện T, tỉnh Nam Định không có nhà, Phạm Tuấn A đã rủ Vũ Viết T lén lút vào nhà anh T lấy 17.000.000đ , 01 camera và 01 cây vi tính. Tổng trị giá tài sản là 18.220.000đ.

Do vậy hành vi của bị cáo Phạm Tuấn A đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến an toàn, trật tự công cộng và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương, tăng cường pháp chế XHCN.

[4] Về tình tiết tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nhiệm hình sự của các bị cáo.

Tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa bị cáo Phạm Tuấn A khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Tuấn A đã rủ rê lôi kéo Vũ Viết T chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo Phạm Tuấn A phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nhiệm hình sự thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực xác định do Vũ Viết T chưa đủ 18 tuổi, phạm tội với vai trò đồng phạm, giữ vai trò phụ, đã khắc phục hậu quả cho người bị hại nên đã áp dụng Điều 90, Điều 91 Bộ Luật Hình sự  2015, Nghị quyết số 109 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đã xử lý hành chính đối với Vũ Viết T.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong qua trình điều tra và tại phiên Tòa người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí : Bị cáo Phạm Tuấn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm n, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 10 ( mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/7/2017.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Tuấn A phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Tuấn A và người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


81
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về