Bản án 60/2017/HSST ngày 18/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN 

BẢN ÁN 60/2017/HSST NGÀY 18/08/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hữu Lũng, huyện H, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 59/2017/HSST, ngày 27 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Hà Thanh T, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1989, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Hà Văn C, sinh năm 1964; và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1965; anh em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là thứ 03; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 17 tháng 5 năm 2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Xuân H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

2. Chị Hà Thị N, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn T, xã Ng, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

3, Anh Hà Anh T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Hà Thanh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn truytố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 15/5/2017 Hà Thanh T, trú tại Thôn H, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đi bộ sang nhà chị Hoàng Thị H ở cùng thôn chơi. Đến nơi T thấy gia đình chi H đang ngủ trưa, tại đầu hồi bên trái nhà có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Superdream biển kiểm soát 12K3-3121, trên xe có 01 chiếc mũ bảo hiểm mầu xanh nhạt, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, T quan sát không thấy ai nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô để lấy tiền tiêu sài. T đến chỗ xe mô tô, mở ổ khóa điện rồi đem xe ra cổng nhà chị H nổ máy điều khiển xe đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy của Lê Xuân H, trú tại Khu phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang cầm cố chiếc xe nhưng do không có giấy tờ nên không cầm cố được. Sau đó, T hỏi vay H 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), T sẽ để lại chiếc xe mô tô làm tin, H đồng ý và đưa cho T 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), T cầm tiền đi tiêu xài cá nhân hết.

Ngay sau khi phát hiện chiếc xe bị mất chị Hoàng Thị H có đơn trình báoCông an xã V, huyện H.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Hà Thanh T đi xe khách đến nhà chị họ tên là Hà Thị N, trú tại thôn Dâu, xã Ng, huyện L, tỉnh Bắc Giang hỏi vay 700.000đ (bẩy trăm nghìn đồng) đề chuộc lại xe mô tô biển kiểm soát 12K3-3121. Chị Hà Thị N gọi điện thông báo cho bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của T, sau đó báo cho Hà Văn T1, trú tại thôn 5, xã An Hà, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng là anh em họ của T đến nhà. Khi anh T1 đến chị N đưa cho anh T1 700.000đ (bẩy trăm nghìn đồng) và bảo anh T1 đi cùng Hà Thanh T để chuộc lại chiếc xe. Đến của hàng sửa chữa xe máy của Lê Xuân H, T1 đưa cho T số tiền 700.000đ (bẩy trăm nghìn đồng) và đợi ở ngoài, T đi vào lấy xe và đưa cho H số tiền 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng), bao gồm 500.000đ (năm trăm nghìn đồng ) là tiền T đã mượn và 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) là tiền trả thêm cho H vì đã cho T mượn tiền. Sau đó, Hà Thanh T cùng Hà Văn T1 đi về Thôn H, xã V để trả xe cho chị Hoàng Thị H. Khi đến nhà chị H thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H yêu cầu T mang xe mô tô cùng mũ bảo hiểm đến Công an để làm việc. Sau đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã lập biên bản tạm giữ vật chứng  là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Superdream biển kiểm soát 12K3-3121; 01 chiếc mũ bảo hiểm mầu xanh nhạt nhãn hiệu OSAKAR đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 17/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Superdream biển kiểm soát 12K3-3121 trị giá 15.000.000đ (mười năm triệu đồng);01 chiếc mũ bảo hiểm mầu xanh nhạt nhãn hiệu 0SAKAR đã qua sử dụng không còn giá trị.

Về vật  chứng của vụ  án đã làm rõ: Chiếc xe mô  tô nhãn hiệu  Honda Superdream biển kiểm soát 12K3-3121 là tài sản chung của vợ chồng anh Đàm Văn Hội và chị Hoàng Thị H, sau khi điều tra làm rõ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe cho chị Hoàng Thị H.

Về dân sự: Người bị hại chị Hoàng Thị H không có yêu cầu gì đối với bị cáo Hà Thanh T. Đối với số tiền 700.000đ, là số tiền Hà Thanh T vay của Hà Thị N để lấy lại xe mô tô biển kiểm soát 12K3-3121, anh trai ruột của T là Hà Anh T đã trả lại cho Hà Thị N, chị N không có yêu cầu gì thêm.

Đối với việc Hà Thanh T mượn tiền của Lê Xuân H số tiền 50.000đ, nhưng khi trả tiền lại trả thêm 50.000đ, là do Hà Thanh T tự nguyện. Việc T để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K3-3121 làm tin bản thân Lê Xuân H không biết nên không có lỗi, nên không đặt vấn đề xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 64/VKS-HS ngày 27 tháng 7 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hà Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra về hành vi trộm cắp tài sản của mình và khẳng định bị cáo bị truy tố, xét xử về tội trộm cắp tài sản là đúng; người bị hại chị Hoàng Thị H trình bầy: Đã nhận được tài sản là chiếc xe mô tô và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm b, h, p khoản 1, Điều 46, các Điều 33, 45 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Thanh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

XÉT THẤY

Bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, khoảng 12 giờ ngày 15 tháng 5 năm 2017, tại nhà của chị Hoàng Thị H trú tại Thôn H, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, lợi dụng gia đình chị H ngủ trưa, không ai để  ý  bị  cáo  Hà  Thanh  T  đã  trộm cắp  01  chiếc  xe  mô  tô  nhãn  hiệu  Honda Superdream biển kiểm soát 12K3-3121, có trị giá là 15.000.000đ, trên xe có 01 chiếc mũ bảo hiểm. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hà Thanh T phạm tội "Trộm cắp tài sản " tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ trộm cắp tài sản hậu quả xẩy ra là ít nghiêm trọng nhưng đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bản, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc trộm cắp tài sản của người khác là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục chính bị cáo và răn đe những người khác có ý định thực hiện hành vi tương tự.

Để cá thể hóa hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên khi lượng hình cần quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bảo đảm tính giáo dục và có tính răn đe, phòng ngừa chung, nhưng cũng xem xét đến nhân thân các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để quyết định hình phạt.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, nhưng cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật tự giác cải tạo tốt, để trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về tính chất. mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là đúng với quy định của pháp.

Về vật  chứng của vụ  án đã làm rõ: Chiếc xe mô  tô nhãn hiệu  Honda Superdream biển kiểm soát 12K3-3121 là tài sản chung của vợ chồng anh Đàm Văn Hội và chị Hoàng Thị H, sau khi điều tra làm rõ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe cho chị Hoàng Thị H.

Về dân sự: Người bị hại chị Hoàng Thị H không có yêu cầu gì đối với bị cáo Hà Thanh T. Đối với số tiền 700.000đ, là số tiền Hà Thanh T vay của Hà Thị N để lấy lại xe mô tô biển kiểm soát 12K3-3121, anh trai ruột của T là Hà Anh T đã trả lại cho Hà Thị N, chị N không có yêu cầu gì thêm.

Đối với việc Hà Thanh T mượn tiền của Lê Xuân H số tiền 50.000đ, nhưng khi trả tiền lại trả thêm 50.000đ, là do Hà Thanh T tự nguyện. Việc T để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K3-3121 làm tin bản thân Lê Xuân H không biết nên không có lỗi, nên không đặt vấn đề xử lý.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, Điều 46, các Điều 33, 45, của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 17 tháng 5 năm 2017.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hà Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

148
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2017/HSST ngày 18/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:60/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về