Bản án 59/2020/HNGĐ-ST ngày 11/08/2020 về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

 BẢN ÁN 59/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/08/2020 VỀ LY HÔN, NUÔI CON KHI LY HÔN

 Ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1987 (có mặt) Địa chỉ: Số 780/8 đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 (vắng mặt) Địa chỉ: Số 780/8 đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Trần Thị Ngọc T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn L tự quen biết, tìm hiểu nhau, sau đó hai bên tự nguyện tiến đến hôn nhân. Ông bà đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/4/2005 và có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm phai nhạt. Từ năm 2007 ông L bỏ nhà đi, đến nay không rõ tin tức, bà và gia đình nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả nên bà đã làm thủ tục yêu cầu Toà án tuyên bố ông L mất tích.

Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là Nguyễn Thành P, sinh ngày 06/5/2004, hiện do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L; về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 06/5/2004, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Văn L là bị đơn: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án, cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L; về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 06/5/2004 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung, bà T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Buộc bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

Bà Trần Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với ông Nguyễn Văn L; đây là tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn L là bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn L như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên, ông L không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà T giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặc khác, ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L.

[2] Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/4/2005 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2019/QĐST-DS ngày 09/9/2019 của Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá đã tuyên bố ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 mất tích. Theo kết quả xác minh xác định từ thời điểm bị tuyên bố mất tích thì ông L cũng không có lần nào trở về địa phương.

Tại phiên tòa hôm nay, bà T xác định không còn tình cảm với ông L nên muốn chấm dứt hôn nhân, Hội đồng xét xử dựa trên nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông L.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông L có 01 người con chung là cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 06/5/2004, hiện do bà T trực tiếp chăm sóc, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi ông L bỏ nhà đi và mất tích cho đến nay thì cháu P do bà T nuôi dưỡng, do đó để tiếp tục ổn định với sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hiện tại, cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu P, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu P cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.

Bà T cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Trường hợp ông L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông L.

Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Từ những nhận định trên, trong thảo luận nghị án Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, cũng như ý kiến đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên cần được chấp nhận.

[3] Án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 06/5/2004 cho bà Trần Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà T cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Trường hợp ông L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông L.

Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001891 ngày 12/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; đương sự có mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


22
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 59/2020/HNGĐ-ST ngày 11/08/2020 về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:59/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về