Bản án 58/2018/HNGĐ-ST ngày 12/01/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 58/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/01/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2018 tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2017/TLST- HNGĐ, ngày 05/12/2017 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Nhơn H, xã Tân H, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1981; (có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Lò N, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 11 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Kiều N trình bày:

Vào ngày 18/01/2010 chị có xác lập quan hệ vợ chồng với anh Huỳnh Văn T và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiếu T, thời gian vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Huỳnh Gia T, sinh ngày 25/10/2010.

Về tài sản chung và nợ chung: không có chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên nhân mâu thuẩn: Sau ngày cưới hàng ngày chị thì đi làm công nhân tại công ty, chồng chị mua bán heo nhưng chồng chị có tính nhậu nhẹt không lo làm ăn nên  vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn và chị với anh T sống ly thân từ tháng 11 năm 2014 cho đến nay.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi con chung tên  Huỳnh Gia T, sinh ngày 25/10/2010 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung và nợ chung không có.

- Ý kiến trình bày của anh Huỳnh Văn T:

Trong quá trình giải quyết vụ án anh T có đơn yêu cầu xin giải quyết vắng mặt và anh có bảng tự khai với nội dung anh thừa nhận và thống về thời gian kết hôn, con chung tài sản chung giống như trình bày của chị Nguyễn Thị Kiều N.

Nay chị N xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh đồng ý để chị N tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Gia T, sinh ngày 25/10/2010 anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Xét thấy đây là quan hệ pháp luật về “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” và bị đơn có địa chỉ xã Hiếu Tử, huyện Tiểu Cần, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

Anh Huỳnh Văn T có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung:

Xét thấy chị Kiều N với anh Huỳnh Văn T kết hôn với nhau vào ngày 18/01/2010 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiếu T, huyện Tiểu C, hôn nhân anh chị là hợp pháp đúng theo quy định luật của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quá trình sống chung anh chị có phát sinh mâu thuẫn không hòa giải được dẫn đến anh chị ly thân nhau, tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Kiều N yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn T, anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua bản tự khai ngày 28 tháng 12 năm 2017 anh đồng ý ly hôn với chị N, trong thời gian anh chị ly thân nhau mặc dù hai bên cố gắng tạo điều kiện, để về đoàn tụ gia đình cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng không có kết quả. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị N và anh T ly hôn là có căn cứ.

Về con chung xét thấy từ khi chị N và anh T ly thân cháu Gia T sống chung với chị N, tại phiên tòa chị N có nguyện vọng nuôi cháu Gia T và không yêu cầu anh T cấp dưỡng, xét thấy yêu cầu của chị Kiều N là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Gia T sinh ngày 25/10/2010 do chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên anh Huỳnh Văn T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 56,58, 81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều N.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều N được ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều N được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Gia T, sinh ngày 25/10/2010, anh Huỳnh Văn T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N, anh T khai không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011829 ngày 05 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, xem như chị N đã nộp xong án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn. Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ nơi cư trú để xin Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


123
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2018/HNGĐ-ST ngày 12/01/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:58/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiểu Cần - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về