Bản án 58/2017/HSST ngày 21/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 58/2017/HSST NGÀY 21/11/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 11 năm 2017 tại Hội trường tổ dân phố 1, thị trấn Kiến Đức, huyên Đắk R’Lấp, tinh Đăk Nông. Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp mơ phiên toa lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2017/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thành V (tên gọi khác: C), sinh ngày 01/5/1999 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1972 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

-Ngày 14/01/2015; ngày 07/5/2015 và ngày 28/7/2015 bị Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính bằng hình thức:”Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 29/10/2015 bị TAND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 19/2015/HSST;

Ngày 04/3/2016 bị TAND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù về tội“Trộm cắp tài sản”tại bản án số 19/2015/HSST của TAND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 13 tháng tại Bản án số 03/2016/HSST; Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2017.

Căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo được coi là trường hợp không có ántích; Bị  cáo bắt giam từ ngày 29/7/2017, đang bị tạm giam – Có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Văn V, sinh ngày 29/01/1999 tại Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn 5, xã D, huyện E, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 5/12; con ông Bùi Văn V1, sinh năm 1970 và con bà Bùi Thị H, sinh năm 1971; tiền án tiền sự: Không; Bị bắt giam từ ngày 29/7/2017, đang bị tạm giam –Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993; trú tại: Thôn F, xã G, huyệnH, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Lý Q, sinh năm 1993; trú tại:Thôn I, xã K,  huyện H, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo Nguyễn Thành V và Bùi Văn V bị Viện k iểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trong quá trình làm thợ cơ khí tại huyện N, tỉnh Đồng Nai thì Nguyễn Thành V và Bùi Văn V có quen biết với nhau. Biết Nguyễn Thành V từng đi tù về tội trộm cắp xe mô tô nên Bùi Văn V rủ Nguyễn Thành V về xã D, huyện E để trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài thì Nguyễn Thành V đồng ý. Ngày 25/7/2017, Nguyễn Thành V và Bùi Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius gắn biển kiểm soát 85B1-125.30 (đây là chiếc xe do Nguyễn Thành V, Bùi Văn V và đồng phạm trộm cắp được tại Khu công nghiệp Sông Mây, huyện N, tỉnh Đồng Nai, xe này có biển kiểm soát là 60B8-804.72 nhưng Nguyễn Thành V và Bùi Văn V đã tháo ra và thay bằng biển kiểm soát 85B1-125.30) đi từ huyện N, tỉnh Đồng Nai về nhà Bùi Văn V tại thôn 5, xã D, huyện E. Tại nhà của Bùi Văn V cả hai bàn bạc với nhau đi dọc các tuyến đường liên xã nếu phát hiện xe mô tô để sơ hở thì lấy trộm.

Khoảng 23 giờ 00 ngày 27/7/2017, Bùi Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius gắn biển kiểm soát 85B1-125.30 chở Nguyễn Thành V đi trên đường liên xã để ra Quốc lộ 14. Khi đi ngang qua nhà nghỉ Nga Lai thuộc thôn 3, xã D, huyện E thì phát hiện trong sân nhà nghỉ có nhiều xe mô tô nên Nguyễn Thành V nói Bùi Văn V dừng xe lại đứng chờ ở ngoài, còn Nguyễn Thành V mang theo bộ đồ phá khoá xe đã chuẩn bị sẵn từ trước đi vào trong sân nhà nghỉ. Khi đến gần chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius biển kiểm soát 74C1-205.35 (là chiếc xe mô tô của anh Trần Lý Q cho anh Nguyễn Văn Q mượn), Nguyễn Thành V lấy bộ đồ phá khoá phá ổ khoá điện của chiếc xe này rồi dắt ra ngoài đường. Lúc này, Bùi Văn V điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 85B1-125.30 chạy trước ra hướng Quốc lộ 14, còn Nguyễn Thành V nổ máy điều khiển chiếc xe vừa lấy trộm được đi theo Bùi Văn V. Khi đi đến Quốc lộ 14, Bùi Văn V gọi điện cho chị gái là Bùi Thị N nhờ mang ba lô đựng quần áo để ở nhà ra cho Bùi Văn V để Bùi Văn V đi Đồng Nai với bạn và mang xe mô tô của Bùi Văn V về nhà cất. Nghe vậy thì chị Bùi Thị N đồng ý và mang ba lô ra cho Bùi Văn V, đồng thời đưa chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 85B1-125.30 về nhà cất giúp Bùi Văn V. Còn Nguyễn Thành V và Bùi Văn V điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74C1-205.35 chạy về tỉnh Đồng Nai. Khi đi qua xã I, huyện K, tỉnh Bình Dương thì bị Đội Cảnh sát giao thông huyện Phú Giáo kiểm tra nên phát hiện và tạm giữ người, phương tiện.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 31/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk R’Lấp kết luận: Giá trị quy thành tiền còn lại tại thời điểm bị chiếm đoạt của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 74C1-205.35 là 17.040.000 đồng (Mười bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 74C1-205.35; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius gắn biển kiểm soát 85B1-125.30; 04 đoan sắt tự chế; 02 khoá lục giác hình chữ “L”; 07 cờ lê, 06 tua vít, 01 gậy sắt ba khúc, 03 kìm, 02 dao bấm, 02 kéo, 01 chìa khoá, 01 gương chiếu hậu; 02 biển kiểm soát xe mô tô (60B8-804.72 và 65KD-1133).

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đắk R’lấp đã tiến hành trưng cầu giám định đối với 03 biển kiểm soát xe mô tô (60B8-804.72; 85B1-125.30 và 65KD- 1133). Tại kết luận giám định số 273/GĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: biển kiểm soát xe mô tô 60B8-804.72 và 85B1-125.30 là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành, còn biển kiểm soát 65KD-1133 không phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành.

Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 74C1- 205.35 và các công cụ gồm: 07 cờ lê, 06 tua vít, 01 gậy sắt 3 khúc, 03 kìm, 02 daobấm, 02 kéo, 01 chìa khoá, 01 gương chiếu hậu là tài sản hợp pháp của anh Trần Lý Q nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng ngày 30/8/2017, trả lại cho chủ sở hữu. Sau khi nhận lại các tài sản trên, anh Trần Lý Q không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius gắn biển kiểm soát85B1-125.30, số máy: 5C6J217105, số khung: RLCS5C6J0GY217097, là chiếc xe các bị cao sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra đã xác định được đây là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại Khu công nghiệp Sông Mây, huyện N, tỉnh Đồng Nai và biển kiểm soát đúng của chiếc xe này là 60B8-804.72 nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đắk R’lấp đang phối hợp để bàn giao chiếc xe này và biển kiểm soát 60B8-804.72 cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom xử lý.

Đối với biển kiểm soát 85B1-125.30, là biển kiểm soát bị mất tại quận 5, TP. Hồ Chí Minh cùng với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Vision của chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1989, trú tại phường H, TP. L, tỉnh Bình Thuận nên cơ quan Cảnh sát điều tra đang phối hợp để bàn giao biển kiểm soát này cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận 5, TP. Hồ Chí Minh xử lý.

Tại Cáo trạng số: 56/CTr - VKS ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thành V và Bùi Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thành V và Bùi Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp bị giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành V và Bùi Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành V từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bị bắt giam ngày 29/7/2017.

-Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bị bắt giam ngày 29/7/2017.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu huỷ: 04 đoan sắt tự chế; 02 khoá lục giác hình chữ “L” (là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội) và biển kiểm soát xe mô tô 85B1-125.30 (biển kiểm soát không phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành được sử dụng vào mục đích phạm tội).

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà , căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn V, Nguyễn Thành V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã công bố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 23 giờ 00 ngày 27/7/2017, Bui Văn V va Nguyên Thanh V đa co hanh vi len lut trôm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius biển kiểm soát 74C1-205.35 tai nhà nghỉ Nga Lai thuộc thôn 3, xã D, huyện E. Tổng giá trị là 17.040.000 đồng (Mười bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Do đó, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Bui Văn V va Nguyên Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến nền trật tự trị an ở địa phương, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xem nhẹ quyền sở hữu về tài sản của người khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm thì mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo Bùi Văn V là người rủ Nguyễn Thành V đi trộm cắp; Bùi Văn V đứng ra cảnh giới để cho Nguyễn Thành V vào phá khóa lấy xe; bị cáo Nguyễn Thành V là người có nhân thân xấu: Ba lần bị Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính bằng hình thức: “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2017, do thời điểm bị cáo phạm tội là người chưa thành niên. Căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo được coi là trường hợp không có án tích. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V mưc hinh phat cao hơn bi cao Bùi Văn V la phu hơp. Đồng thơi, cách ly cac bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định thì mới bảo đảm được mục đích của hình phạt

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Xét thấy, sau khi phạm tội các bị cáo Bùi Văn V và Nguyễn Thành V đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; bị cáo Bùi Văn V phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Đối với 04 đoan sắt tự chế; 02 khoá lục giác hình chữ “L” (là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội) và biển kiểm soát xe mô tô 85B1-125.30 (biển kiểm soát không phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành được sử dụng vào mục đích phạm tội) không con gia tri sư dung cần tich thu tiêu huy.

Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 74C1- 205.35 và các công cụ gồm: 07 cờ lê, 06 tua vít, 01 gậy sắt 3 khúc, 03 kìm, 02 dao bấm, 02 kéo, 01 chìa khoá, 01 gương chiếu hậu là tài sản hợp pháp của anh Trần Lý Q nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng ngày 30/8/2017, trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp cần chấp nhận.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius gắn biển kiểm soát 85B1-125.30, số máy: 5C6J217105, số khung: RLCS5C6J0GY217097, là chiếc xe các bị cao sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra đã xác định được đây là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại Khu công nghiệp Sông Mây, huyện N, tỉnh Đồng Nai và biển kiểm soát đúng của chiếc xe này là 60B8-804.72 nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đăk R’lấp đang phối hợp để bàn giao chiếc xe này và biển kiểm soát 60B8-804.72 cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom xử lý là phù hợp cần chấp nhận.

Đối với biển kiểm soát 85B1-125.30, là biển kiểm soát bị mất tại quận 5, TP. Hồ Chí Minh cùng với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Vision của chị Nguyễn Thị Minh Trâm, sinh năm 1989, trú tại phường H, TP. L, tỉnh Bình Thuận nên cơ quan CSĐT đang phối hợp để bàn giao biển kiểm soát này cho cơ quan CSĐT công an quận 5, TP. Hồ Chí Minh xử lý là phù hợp cần chấp nhận.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành V và Bùi Văn V phạm tội:“Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự (Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn Vĩ).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thơi han chấp hành hình phạt tù tinh tư ngay bắt tạm giam ngày 29/7/2017. Xử phạt bị cáo Bùi Văn V 09 (chín) tháng tù. Thơi han chấp hành hình phạt tùtinh tư ngay bắt tạm giam ngày 29/7/2017.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; đi êm a khoan 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tich thu tiêu huy 04 đoan sắt tự chế; 02 khoá lục giác hình chữ “L” (là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội) và biển kiểm soát xe mô tô 85B1-125.30 (Có đặc điểm như trong biên bản thu giữ vật chứng).

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng ngày 30/8/2017, trả lại chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius biển kiểm soát 74C1- 205.35 và các công cụ gồm: 07 cờ lê, 06 tua vít, 01 gậy sắt 3 khúc, 03 kìm, 02 dao bấm, 02 kéo, 01 chìa khoá, 01 gương chiếu hậu là tài sản hợp pháp của anh Trần Lý Q.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đăk R’Lấp bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius số máy: 5C6J217105, số khung: RLCS5C6J0GY217097, biển kiểm soát 60B8-804.72 cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Chấp nhận cơ quan sảnh sát điều tra bàn giao biển kiểm soát 85B1-125.30, là biển kiểm soát bị mất tại quận 5, TP. Hồ Chí Minh của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Vision của chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1989, trú tại phường H, TP. L, tỉnh Bình Thuận cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận 5, TP. Hồ Chí Minh xử lý theo quy định pháp luật.

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc cac bị cáo Nguyễn Thành V và Bùi Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


99
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2017/HSST ngày 21/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:58/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk R'Lấp - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về