Bản án 57/2021/HSST ngày 05/02/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 57/2021/HSST NGÀY 05/02/2021 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2021/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: LƯU ĐỨC S, sinh ngày: 14/03/1993; Tại: tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi tạm trú: 05 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Đánh giày; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lưu Đức Y, sinh năm 1955 và con bà Đặng Thị D, sinh năm 1965.

Bị cáo có vợ là Trần Thị Bích L, sinh năm 1993 và có 03 con lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2020. Hiện đều trú tại: 05 Y, phường, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt bắt tạm giữ từ ngày 27/8/2020, hiện bị cáo đang bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột – Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1982. Địa chỉ: 05 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

Người chứng kiến:

1. Chị Trần Thị Kim A, sinh năm 1997. Địa chỉ: 33 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

2. Anh Phan Minh T, sinh năm 2000. Địa chỉ: 79/53 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

Người làm chứng: Chị Trần Thị Bích L (B), sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lưu Đức S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine từ tháng 5/2020. Do không có việc làm ổn định nên S nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời.

Khong 07 giờ ngày 27/8/2020, S đến khu vực đường Phạm Ngũ Lão giao với đường 10/3, thành phố B, Đắk Lắk mua của 01 đối tượng tên M (chưa rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma túy Heroine với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S mang về phòng trọ tại địa chỉ 05 Y, phường T, thành phố B phân nhỏ được 36 gói ma túy loại Heroine để bán lại cho các con nghiện kiếm lời với giá 80.000 đồng đến 100.000 đồng/gói. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân H, sinh năm:

1963, trú tại: Thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đi bộ một mình đến phòng trọ gặp S mua 01 gói giấy chứa ma túy Heroine với giá 80.000 đồng. Sau đó, H mua 01 bơm kim tiêm và đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an phường T phát hiện, lập biên bản về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 gói giấy bên trong chứa chất rắn màu trắng (H khai nhận là Heroine mua của S được niêm phong theo quy định pháp luật).

Qua điều tra xác minh, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lưu Đức S, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Đức S tại phòng trọ số 02, địa chỉ: 05 Y, phường T, thành phố B, thu giữ: 30 gói giấy bên trong đều chứa chất rắn màu trắng (S khai nhận là ma túy loại Heroine mua về sử dụng và bán lại kiếm lời được niêm phong theo quy định pháp luật).

Quá trình điều tra, S khai nhận: Sáng ngày 27/8/2020, S đã bán 06 gói ma túy loại Heroine cho các con nghiện, trong đó có 01 gói bán cho Nguyễn Xuân H.

Theo bản Kết luận giám định số 816/GĐMT-PC09 ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy được niêm phong tạm giữ của Nguyễn Xuân H gửi giám định là ma túy, khối lượng: 0,0113 gam,loại Heroine.

Mẫu vật còn lại sau giám định: Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Theo Bản kết luận giám định số 817/GĐMT- PC09 ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 30 (ba mươi) gói giấy niêm phong tạm giữ của Lưu Đức S gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là: 0,3654 gam, loại Heroine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3473 gam chất rắn màu trắng và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS TP.BMT ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lưu Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 52/CT-VKS TP.BMT ngày 11 tháng 01 năm 2021, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lưu Đức S phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Xử phạt: Bị cáo Lưu Đức S từ 07 năm 06 tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 0,3473 gam chất rắn màu trắng và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì số 817/GĐMT - PC09 ngày 04/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Go Go - C32, màu đen, gắn sim số 0941.343.959 và số tiền 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi ngàn đồng) là tài sản bị cáo Lưu Đức S sử dụng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có;

- Trả lại cho Lưu Đức S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng bạc, không gắn sim là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 27/8/2020 tại ngã tư đường A và đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Xuân H có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,0113 gam loại Heroin, nguồn gốc ma túy là mua của Lưu Đức S. Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Đức S tại phòng trọ số 02, tại địa chỉ: 05 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và thu giữ 0,3654 gam ma túy loại Heroin.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận ngoài bán cho Nguyễn Xuân H 01 gói ma túy thì bị cáo còn bán cho một người đàn ông 05 gói ma túy, tổng số gói ma túy bị cáo bán là 06 gói và tiền thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy là 620.000 đồng.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.

[3]. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy quyết định truy tố bị cáo Lưu Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lưu Đức S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b, Phạm tội 02 lần trở lên;

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, đồng thời còn gây mất ổn định trị an xã hội và nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân dẫn đến làm lan truyền các căn bệnh xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được rằng, ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt và sử dụng trái phép. Song do lối sống buông thả, không lành mạnh, nghiện ngập, nên bị cáo đã thực hiện việc mua bán ma túy để nhầm mục đích kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Vì vậy, đối với bị cáo cần có mức án đủ nghiêm và buộc cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định có như vậy mới đủ tính chất giáo dục và răn đe.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Đức S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo là phù hợp;

Đối với Nguyễn Xuân H, sinh năm: năm: 1963, trú tại: Thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhưng không đủ định lượng, H chưa có tiền án hay bị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ma túy nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý hành chính đối với Nguyễn Xuân H là phù hợp;

Đối với người nam giới tên M bán ma túy cho S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành xác minh và có Công văn đề nghị cung cấp thông tin về chủ thuê bao nhưng hiện chưa có kết quả trả lời và chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an Buôn Ma Thuột tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau;

Đối với bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1982, trú tại: 05 Y, phường T, thành phố B là chủ nhà cho Lưu Đức S thuê trọ, bà N không biết việc Lưu Đức S có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông mua của bị cáo 05 gói ma túy, hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an Buôn Ma Thuột tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp;

[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho các bị cáo trong khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5]. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy 0,3473 gam chất rắn màu trắng và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì số 817/GĐMT - PC09 ngày 04/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Go Go - C32, màu đen, gắn sim số 0941.343.959 và số tiền 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi ngàn đồng) là tài sản bị cáo Lưu Đức S sử dụng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có;

- Trả lại cho Lưu Đức S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng bạc, không gắn sim là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

[6]. Về án phí: Bị cáo Lưu Đức S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Đức S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Xử phạt: Bị cáo Lưu Đức S 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày 27/8/2020.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 0,3473 gam chất rắn màu trắng và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong bì số 817/GĐMT - PC09 ngày 04/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Go Go - C32, màu đen, gắn sim số 0941.343.959 và số tiền 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi ngàn đồng) là tài sản bị cáo Lưu Đức S sử dụng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có;

- Trả lại cho Lưu Đức S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng bạc, không gắn sim là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

(Tang vật có đặc điểm như trong biên bản giao nhân vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 01/02/2021).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lưu Đức S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

255
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2021/HSST ngày 05/02/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:57/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về