Bản án 57/2020/HS-ST ngày 17/12/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 57/2020/HS-ST NGÀY 17/12/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyên Mộc Châu , tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Hà Đức D, sinh năm 1993, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu 1/5, xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; trình độ văn hoá: Lớp 01/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn D, sinh năm 1961, con bà Vì Thị L, sinh năm 1970; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/01/2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 08/01/2020 (Chưa được xóa tiền sự):

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 64/2011/HSST ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù giam về tội Không tố giác tội phạm (Đã được xóa án tích), Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2020/HSST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 22 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật):

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2020 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Hà Thị M, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Tiểu khu XX, thị trấn M, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Đức D là đối tượng đã có tiền án, tiền sự và là đối tượng nghiện chất ma túy. Sáng ngày 28/9/2020 D một mình đi bộ trên đường dân sinh thuộc bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu thì nhìn thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 26H4 – 2838 không ai trông coi của chị Hà Thị M. D nảy sinh ý định trộm chiếc xe để làm phương tiện đi lại. D đi đến chiếc xe máy và tháo giắc cắm rồi đấu tắt ổ khóa điện nổ máy điều khiển xe đi ra Quốc lộ 6 đi xuống huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Khi đi đến huyện Vân Hồ, D điều khiển xe máy đi vào một ngách nhỏ ven đường và dùng tuốc nơ vít tháo yếm xe, biển kiểm soát, 02 gương chiếu hậu vứt vào bụi cây. Sau đó D tiếp tục điều khiển xe máy đến bản Lũng Xá, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua được 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng và sử dụng hết. Đến sáng ngày 29/9/2020 D điều khiển xe máy đến nhà chú họ là ông Hà Văn S ăn cơm và ngủ tại nhà ông S. Đến sáng ngày 30/9/2020 D đi xe khách xuống Hà Nội để tìm việc làm và gửi chiếc xe D trộm cắp được tại nhà ông S.

Sau khi bị mất chiếc xe máy ngày 18/10/2020 chị Hà Thị M đã làm đơn trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu. Ngày 20/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã thu giữ chiếc xe máy do D trộm cắp của chị M tại nhà ông S.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 28/KL–HDĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mộc Châu định giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, biển kiểm soát 26H4-2838 có trị giá là 10.000.000 đồng Đối với 01 chiếc biển kiểm soát, 01 yếm xe máy và 02 gương chiếu hậu, quá trình trộm cắp D đã tháo vứt đi tại huyện Vân Hồ. Do D không nhớ địa điểm nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để truy tìm và thu giữ.

Bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La truy tố Hà Đức D về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Đức D phạm tội: Trộm cắp tài sản và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Đức D từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận việc chị Hà Thị M không yêu cầu Hà Đức D phải bồi thường công tìm kiếm xe máy và tiền thay thế 01 chiếc biển kiểm soát, 01 yếm xe máy, 02 gương chiếu hậu.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả cho chị Hà Thị M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, biển kiểm soát 26H4-2838 và 01 đăng ký xe máy.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Hà Đức D, SN: 1993, HKTT: Tiểu khu 1/5, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. KQ: Dương tính.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo Hà Đức D phải chiu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo và bị hại hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát.

Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hà Đức D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, ngày 28/9/2020 bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 26H4-2838 của chị Hà Thị M, mục đích làm phương tiện đi lại. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với đơn trình báo của bị hại Hà Thị M; biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu; kết luận định giá tài sản số: 28/KL–HDĐGTS ngày 20/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mộc Châu định giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, biển kiểm soát 26H4- 2838 có trị giá là 10.000.000 đồng; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Hà Đức D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 28/9/2020 Hà Đức D đã có hành vi lén lút bí mật trộm cắp 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 26H4-2838 của chị Hà Thị Mai trị giá 10.000.000 đồng, mục đích làm phương tiện đi lại. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Trị giá tài sản bị cáo Hà Đức Duy trộm cắp là 10.000.000 đồng nên bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Có tiền sự: Ngày 08/01/2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, (chưa được xóa). Ngày 30/12/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 12 tháng tù giam về tội Không tố giác tội phạm (đã được xóa án tích). Ngày 30/11/2020 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 22 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (hiện bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Thấy rằng bị cáo Hà Đức D đã được đi cải tạo giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

3 Vê hinh phat bô sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự:

Chị Hà Thị M đã được nhận lại tài sản, chị M không yêu cầu Hà Đức D phải bồi thường công tìm kiếm xe máy đã bị mất và tiền thay thế 01 chiếc biển kiểm soát, 01 yếm xe máy, 02 gương chiếu hậu.

Xét việc chị Hà Thị M không yêu cầu Hà Đức D phải bồi thường thiệt hại là hoàn toàn tự nguyện, cần chấp nhận do phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.

[5] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, biển kiểm soát: 26H4-2838 và 01 đăng ký xe máy là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị M. Ngày 12/8/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả cho chị Hà Thị M quản lý, sử dụng là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Hà Đức D. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

6 Về các vấn đề khác:

Đối với Hà Văn S, quá trình điều tra xác định khi D mang xe máy đến nhà ông S gửi thì ông S không biết đó là tài sản do D trộm cắp mà có. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập đến việc xử lý.

7 Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Để đảm bảo thi hành án hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Đức D phạm tội: Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Hà Đức D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận việc chị Hà Thị M không yêu cầu Hà Đức D phải bồi thường công tìm kiếm xe máy và tiền thay thế 01 chiếc biển kiểm soát, 01 yếm xe máy, 02 gương chiếu hậu.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả cho chị Hà Thị M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, BKS: 26H4-2838 và 01 đăng ký xe máy.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Hà Đức D, KQ: Dương tính.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Hà Đức D phải chiu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/12/2020).


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2020/HS-ST ngày 17/12/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:57/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về