Bản án 57/2020/HSST ngày 10/12/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 57/2020/HSST NGÀY 10/12/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2020/TLST-HS ngày 12/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HS ngày 25/11/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Nhật T- Sinh năm: 1995 tại: Lâm Đồng; Tên gọi khác: Thế Lừa; NKTT: Thôn 1, xã HN, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Trần Văn T, sinh năm 1970; Con bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1973; Đều trú tại: Thôn 1, xã HN, huyện DL; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Phước D; sinh năm 1995. Có 01 người con sinh năm 2019.

Về tiền sự:

-Ngày 31/10/2016 bị cáo bị Công an TP.BL xử phạt 4.000.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại hung khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ”, đến nay chưa chấp hành nộp phạt.

-Ngày 27/02/2017 bị cáo bị Công an huyện DL, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hiện chưa chấp hành nộp phạt.

-Ngày 25/07/2020 bị cáo bị UBND xã HN1, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng.

Về tiền án:

-Ngày 07/01/2015 Trần Nhật T bị Tòa án nhân dân TP. BL xử phạt 09 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành án xong vào ngày 03/05/2017. Nhưng chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích.

-Ngày 04/05/2017 Trần Nhật T bị Tòa án nhân dân TP.BL xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành án xong ngày 04/07/2018. Nhưng chưa chấp hành bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích.

Về nhân thân: Ngày 30/09/2013 Trần Nhật T bị Công an TP.BL tỉnh Lâm Đồng xử phạt 1.500.000đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành nộp phạt xong vào ngày 01/10/2013.

Bị cáo Trần Nhật T bị bắt tạm giam từ ngày 31/07/2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+Người Làm Chứng:

Anh Huỳnh Xuân N, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn Nga Sơn, xã Lng, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. ( có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Nhật T là đối tượng nghiện ma túy, do có nhu cầu cần ma túy để sử dụng nên khoảng 20 giờ ngày 13/07/2020, Trần Nhật T đã gọi điện thoại cho đối tượng tên Chiến (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000đ ma túy với mục đích để sử dụng thì Chiến đồng ý bán và hẹn Thế ra xã Lng, TP.BL để giao ma túy. Sau đó, Thế bắt xe ôm đến đường hẻm tại xã Lng-TP.BL để mua ma túy của Chiến. Sau khi mua được ma túy Thế lấy ra sử dụng, số ma túy còn lại Thế cất giấu vào ngăn khẩu trang y tế màu xanh bỏ vào túi áo khoác phao màu vàng rồi quay về lại xã Lộc An, huyện B. Khi Thế đi đến nhà nghỉ Thành Đạt thuộc thôn 6, xã Lộc An, huyện B thì bị Công an huyện B bắt quả tang cùng tang vật là 01 gói nilon kích thước 0,8x3,2cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu để vào túi bên trái, phía trước, mặt trong áo khoác phao màu vàng của Thế. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh của Thế.

Theo kết luận giám định số 1255/GĐ-PC09 ngày 20/07/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể (M) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,1014gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính Phủ.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Cáo trạng số 64/CTr-VKS ngày 09/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Nhật T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Nhật T từ 6 đến 7 năm tù.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy:

-01 phong bì niêm phong số 1255/GĐ-PC09; ghi: Vụ: Trần Nhật T; Sn: 1995; HKTT: thôn 01, xã HN, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; QĐTC: 75/CSĐT; 15/07/2020; Bao gói. Trên phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Võ Như Thuận, Đỗ Quốc Khánh, Nguyễn Hồng Bắc và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng;

-01 chiếc khẩu trang y tế màu xanh.

- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước:

-01 phong bì niêm phong, bên trong phong bì có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, không rõ loại, số Seri 1: 356004082440720, số Seri 2: 356004082440738, bên trong điện thoại có 02 sim; sim 1 số: 0912726773, sim 2 số: 0398593201. Bên ngoài phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Vũ Hải Hào, Hoàng Văn An, Trương Kim Lĩnh, Huỳnh Xuân Nhật, Trần Nhật T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Lộc An.

- Trong vụ án, đối tượng tên Chiến có hành vi bán ma túy cho Trần Nhật T, hành vi của Chiến có dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy tuy nhiên chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Chiến nên tách ra xử lý sau.

- Về án phí: Đề nghị bị cáo Trần Nhật T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện B; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện B trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Bị cáo Trần Nhật T là đối tượng nghiện ma túy, do có nhu cầu cần ma túy để sử dụng nên khoảng 20 giờ ngày 13/07/2020, Trần Nhật T đã gọi điện thoại cho đối tượng tên Chiến (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000đ ma túy với mục đích để sử dụng thì Chiến đồng ý bán và hẹn Thế ra xã Lng, TP.BL để giao ma túy. Sau đó, Thế bắt xe ôm đến đường hẻm tại xã Lng, TP.BL để mua ma túy của Chiến. Sau khi mua được ma túy Thế lấy ra sử dụng, số ma túy còn lại Thế cất giấu vào ngăn khẩu trang y tế màu xanh bỏ vào túi áo khoác phao màu vàng rồi quay về lại xã Lộc An, huyện B. Khi Thế đi đến nhà nghỉ Thành Đạt thuộc thôn 6, xã Lộc An, huyện B thì bị Công an huyện B bắt quả tang cùng tang vật là 01 gói nilon kích thước 0,8x3,2cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu để vào túi bên trái, phía trước, mặt trong áo khoác phao màu vàng của Thế. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh của Thế.

Theo kết luận giám định số 1255/GĐ-PC09 ngày 20/07/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể (M) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,1014gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính Phủ.

Ngày 07/01/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân TP.BL xử phạt 09 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành án xong vào ngày 03/05/2017, nhưng chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích. Ngày 04/05/2017 bị Tòa án nhân dân TP.BL xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành án xong ngày 04/07/2018, nhưng chưa chấp hành bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích, đến ngày 13/7/2020 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp là tái phạm nguy hiểm nên bị cáo Trần Nhật T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không tìm cách cai nghiện để sớm hoàn lương, trái lại lại lén lút mua ma túy cất giấu để sử dụng. Hành vi trên gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn ma túy hiện nay.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế bị cáo khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[8] Trong vụ án, đối tượng Chiến có hành vi bán ma túy cho Trần Nhật T có dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy tuy nhiên không xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra xử lý sau.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

- Tịch thu và tiêu hủy:

-01 phong bì niêm phong số 1255/GĐ-PC09; ghi: Vụ: Trần Nhật T; Sn: 1995; HKTT: thôn 01, xã HN, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; QĐTC: 75/CSĐT; 15/07/2020; Bao gói. Trên phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Võ Như Thuận, Đỗ Quốc Khánh, Nguyễn Hồng Bắc và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng;

-01 chiếc khẩu trang y tế màu xanh.

- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước:

-01 phong bì niêm phong, bên trong phong bì có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, không rõ loại, số Seri 1: 356004082440720, số Seri 2: 356004082440738, bên trong điện thoại có 02 sim; sim 1 số: 0912726773, sim 2 số: 0398593201. Bên ngoài phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Vũ Hải Hào, Hoàng Văn An, Trương Kim Lĩnh, Huỳnh Xuân Nhật, Trần Nhật T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Lộc An.

[10] Về án phí: Bị cáo Trần Nhật T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố Bị cáo Trần Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Nhật T 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/7/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy:

-01 phong bì niêm phong số 1255/GĐ-PC09; ghi: Vụ: Trần Nhật T; Sn: 1995; HKTT: thôn 01, xã HN, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; QĐTC: 75/CSĐT;

15/07/2020; Bao gói. Trên phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Võ Như Thuận, Đỗ Quốc Khánh, Nguyễn Hồng Bắc và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng;

-01 chiếc khẩu trang y tế màu xanh.

- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước:

-01 phong bì niêm phong, bên trong phong bì có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, không rõ loại, số Seri 1: 356004082440720, số Seri 2: 356004082440738, bên trong điện thoại có 02 sim; sim 1 số: 0912726773, sim 2 số: 0398593201. Bên ngoài phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Vũ Hải Hào, Hoàng Văn An, Trương Kim Lĩnh, Huỳnh Xuân Nhật, Trần Nhật T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Lộc An.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Nhật T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2020/HSST ngày 10/12/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:57/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lâm - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về