Bản án 57/2020/HS-ST ngày 01/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 57/2020/HS-ST NGÀY 01/06/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 01/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2020/TLST-HS ngày 22/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 58/2020/QĐXXST-HS ngày 18/5/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Mạnh H, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở; Khu 5, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Có bố là Trần Văn Th, sinh năm 1956 và mẹ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; Có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1991 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2010; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Không Tiền sự: Ngày 05/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 12/9/2018.

Nhân thân:

- Ngày 23/01/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Ngày 28/6/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- Ngày 22/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện S, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đầu thú bị tạm giữ tạm giam từ ngày 29/01/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại :

1. Anh Nguyễn Huy T – sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

2. Chị Đặng Mai T1 – sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 41, phường L, quận H, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Mạnh H, sinh năm 1987, trú tại khu 5, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, đã từng bị đưa ra xét xử về hình sự về các tội xâm phạm sở hữu và đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/01/2020, Trần Mạnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 29X9-0798 một mình đi từ nhà sang địa phận huyện V, tỉnh Bắc Giang, mục đích xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến khu vực thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, H dừng lại, dựng xe mô tô ở rìa đường rồi đi bộ vào trong thôn. Đi được khoảng 100 mét, H thấy bên trong gian nhà cấp 4 của gia đình anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1979 có để một chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 98MĐ1- 029.34. Quan sát thấy cổng mở, xung quanh không có ai nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy điện trên để mang đi tiêu thụ lấy tiền tiêu sài cá nhân. H đi đến vị trí để chiếc xe máy điện thì thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. H dùng tay phải mở ổ khóa rồi dắt xe ra cổng, điều khiển xe về nhà cất giấu. Sau đó, H đi xe ôm của một người không quen biết đến vị trí để xe mô tô của mình trước đó để lấy xe rồi điều khiển đi về nhà. Ngày 28/01/2020, anh Nguyễn Huy T có đơn trình báo gửi đến Công an xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 29/01/2020, Trần Mạnh Hùng đến Công an xã Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp 01 xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 98MĐ1-029.34 đã trộm cắp được và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 29X9- 0798.

Ngày 30/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả: xác định vị trí để xe máy điện của anh T trước khi bị trộm cắp là trong nhà cấp 4, nối tiếp với nhà ở hai tầng, màu xanh, vị trí cách cửa ra vào 1,6 mét, cách tường phía Bắc 3,2 mét.

Ngày 02/02/2020, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện V đã tiến hành định giá và kết luận: 01 xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 98MĐ1- 029.34 trị giá 5.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 20/4/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Trần Mạnh H ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo Trần Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 18/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V đã trả lại xe máy điện trên cho anh Nguyễn Huy T. Anh T đã nhận lại xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì .

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/01/2020. Do bị cáo thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 29X9-0798 của Trần Mạnh H.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2]Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 16/01/2020, tại nhà ở của gia đình anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1979 ở thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Trần Mạnh H đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 98MĐ1- 029.34 trị giá 5.400.000 đồng của anh Nguyễn Huy T rồi mang về nhà cất giấu với mục đích mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

[3] Như vậy hành vi của bị cáo Trần Mạnh H đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình anh Nguyễn Huy T, lén lút trộm cắp chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Xmen màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 98MĐ1-029.34 trị giá 5.400.000 đồng của gia đình anh Nguyễn Huy T. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo về tội“ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 là hoàn toàn có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử hình sự về các tội xâm phạm sở hữu và đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả và tự nguyện ra đầu thú. Do vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ hình phạt bị cáo.

[8] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị toà án đưa ra xét xử hình sự về tội xâm phạm sở hữu và đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Do bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân dự: Bị hại đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[10] Về vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 29X9-0798, H sử dụng đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, xác định biển số xe mô tô 29X9 – 0798 là của chủ xe Đặng Mai T1, sinh năm 1981, địa chỉ: Số 41, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; số máy của xe mô tô là của chủ xe Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976, địa chỉ: Khu K, xã K, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, cả chị T1 và anh H1 đều xác định các chiếc xe này anh chị đã bán cho người không quen biết từ lâu, khi còn sử dụng các chiếc xe trên chị T1 và anh H1 không tác động hay thay đổi bất cứ thứ gì trên các xe mô tô trên. Quá trình điều tra cũng xác định được chiếc xe mô tô này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Bị cáo Trần Mạnh H xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản của H, mua của một người không quen biết ở khu vực công viên trong thành phố B với giá 2.000.000 đồng, do chiếc xe mô tô trên là của bị cáo và bị cáo dùng chiếc xe này làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản, do vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[11] Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự để buộc bị cáo Trần Mạnh H phải chịu án phí HSST và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015;

Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ tạm giam 29/01/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 29X9-0798 của Trần Mạnh H.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Trần Mạnh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015 Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2020/HS-ST ngày 01/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:57/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Việt Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về