Bản án 57/2020/HS-PT ngày 17/11/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 57/2020/HS-PT NGÀY 17/11/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 139/2020/TLPT-HS ngày 01/10/2020 đối với các bị cáo A, B (N) do có kháng cáo của các bị cáo A, B (N) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2020/HS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. A, sinh năm 1985, tại A, An Giang; đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P Đông, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; con ông V (chết) và bà Q (chết); có vợ tên T, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: ngày 31/8/2016, bị Công an xã P Đông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt.

2. B (N), sinh năm 1983 tại A, An Giang; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P Đông, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiền Lâm; con ông Đ và bà L; có chồng tên N, sinh năm 1979 và có 04 con chung, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013; chị em ruột có 09 người, bị cáo là người thứ năm.

Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tốt.

Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo B (N): Luật sư P – Văn phòng Luật sư D, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang, địa chỉ: số 1245 Quốc lộ 91, ấp M, xã N, huyện E, tỉnh An Giang, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông C, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp P, xã P Đông, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt;

2. Bà D (Q), sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp P, xã P Đông, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt;

3. Ông Đ (V), sinh năm 1985, nơi cư trú: ấp P, xã P Đông, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà E, sinh năm 1963, vắng mặt;

2. Bà G, sinh năm 1961, vắng mặt;

3. Ông H, sinh năm 1986, vắng mặt;

4. Em I, sinh năm 2003; người đại diện theo pháp luật của em I là ông K, sinh năm 1965, vắng mặt.

(Trong vụ án, các bị cáo kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 10/01/2020, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực sân bóng chuyền thuộc ấp P, xã P Đông, huyện A có các đối tượng đang đánh bạc được thua bằng tiền, nên lực lượng Công an tiến hành đến địa điểm trên kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện A đang đánh bạc dưới hình thức sử dụng bài tây chơi bài 06 lá nên lực lượng tiến hành lập biên bản quả tang bắt giữ A cùng tang vật.

Thu giữ trên người A số tiền 4.310.000 đồng; trên chiếu bạc số tiền 3.700.000 đồng và các dụng cụ dùng để đánh bạc.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 11 giờ ngày 10/01/2020, B đến khu vực sân bóng chuyền, tham gia đánh bạc dưới hình thức sử dụng bài tây chơi bài 06 lá được thua bằng tiền. B trực tiếp thủ cái và ăn thua với các con bạc khác. Sới bạc có nhiều người tham gia nhưng B chỉ biết được A, còn những người khác không quen biết (không rõ họ tên, địa chỉ). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Công an đến bắt quả tang A, còn B và những người khác lợi dụng tình trạng hỗn loạn tẩu thoát.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) chiếc đệm dài 02m, rộng 1,4m, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá trên chiếu bạc, đã qua sử dụng;

- 10 (mười) bộ bài tây 52 lá, chưa qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s, màu đen, số imel 1:

868683048812659, số imel 2: 868683048812642 đã qua sử dụng, chưa kiểm tra thực tế bên trong.

- Tiền Việt Nam 9.410.000 (Chín triệu bốn trăm mười nghìn) đồng.

Ngày 17/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện A ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A.

Ngày 10/4/2020 Công an huyện A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B, C, D, Đ về hành vi “Đánh bạc”.

Ngày 16/5/2020 Công an huyện A ra quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B.

Ngày 17/5/2020, B bị khởi tố điều tra.

Cáo trạng số 21/CT-VKS-AP ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A truy tố các bị cáo A và B (N) về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện A đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo A; bị cáo B (N) phạm tội: “Đánh bạc”;

Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Xử phạt bị cáo A 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), Xử phạt bị cáo B (N) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ các điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc đệm dài 02m, rộng 1,4m, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá trên chiếu bạc, đã qua sử dụng;

- 10 (mười) bộ bài tây, chưa qua sử dụng;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 9.410.000 (Chín triệu bốn trăm mười nghìn) đồng.

Giao trả cho bị cáo A: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s, màu đen, số imel 1: 868683048812659, số imel 2: 868683048812642 đã qua sử dụng, chưa kiểm tra thực tế bên trong.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/6/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện A; Biên lai thu tiền số AA/2017/0000592 ngày 09/6/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện A).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/8/2020 bị cáo A kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 11/8/2020 bị cáo B (N) kháng cáo với nội dung: xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

Về thủ tục kháng cáo: đơn kháng cáo của các bị cáo có yêu cầu rõ ràng, trong hạn luật định nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: quá trình lời khai nhận tội của các bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu và vật chứng trong vụ án. Hành vi của các bị cáo đã đủ đấu hiệu định tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, quyết định mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở xem xét.

Vì các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện A.

Tuyên bố bị cáo A và B (N) pham tội “Đánh bạc” Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo A 04 (bốn) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo B (N) 06 (sáu) tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo B phát biểu ý kiến: hành vi của bị cáo B là vi phạm pháp luật, nhưng hình phạt 06 tháng tù là hơi nặng đối với bị cáo. Bởi lẽ, việc tham gia đánh bạc vào ngày 10/01/2020 (trước Tết 25 ngày) là thú vui ham chơi vào dịp Tết. Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã có đề xuất hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp. Ngoài ra, bị cáo B là phụ nữ và hiện nay cũng chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, hành vi của bị cáo có cần phải răn đe bằng hình phạt tù hay không? Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho hưởng án treo vì bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, đang trực tiếp nuôi cháu nhỏ, không cần phải nghiêm khắc đưa vào trại giam.

Bị cáo B phát biểu bổ sung: thống nhất với ý kiến người bào chữa, xin xem xét giảm án, cho hưởng án treo.

Bị cáo A: bị cáo là lao động chính, vợ bị bệnh, con còn nhỏ, mẹ bị cáo vừa mới mất, xin giảm án cho hưởng án treo để chăm lo gia đình.

Đại diện Việm kiểm sát phát biểu ý kiến: những tình tiết bị cáo A nêu ra đã được cấp sơ thẩm áp dụng và đã xem xét áp dụng Điều 54, xử phạt bị cáo 04 tháng tù. Về ý kiến người bào chữa của bị cáo B: truyền thống Tết cổ truyền là những trò chơi dân gian, không được thua bằng tiền. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là vi phạm pháp luật và đủ dấu hiệu định tội tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Người bào chữa của bị cáo B phát biểu: bị cáo B làm cái xoay vòng, bắt quả tang bị cáo A và tang vật tại chiếu bạc, bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị xem xét áp dụng Điều 54 đối với bị cáo B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Phiên tòa sơ thẩm xét xử và tuyên án vào ngày 05/8/2020. Ngày 10/8/2020, bị cáo A kháng cáo. Ngày 11/8/2020, bị cáo B kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo, những người làm chứng vắng mặt, đều đã có lời khai rõ ràng tại hồ sơ nên căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tòa án nhân dân huyện A nhận định các bị cáo có hành vi đánh bạc dựa trên các chứng cứ về lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tài liệu, vật chứng của vụ án. Các bị cáo đã có hành vi sử dụng bài tây chơi bài 06 lá được thua bằng tiền với số tiền dùng để đánh bạc là 8.810.000 đồng (tiền thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc là 3.700.000 đồng, tiền thu giữ trên người A là 4.310.000 đồng, B tự nguyện giao nộp 800.000 đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh này là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét kháng cáo của các bị cáo:

[2.2.1] Xét kháng cáo của bị cáo A: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, và xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác để áp dụng khoản 2 Điều 51 (bị cáo là lao động chính, cha mẹ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, từ đó áp dụng Điều 54 để xử phạt bị cáo A 04 tháng tù là đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không thể xem xét. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo A như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

[2.2.2] Xét kháng cáo của bị cáo B (N): việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo B thủ cái trên 10 ván bài nhưng khai “chỉ mang số tiền 1.200.000 đồng tham gia đánh bạc” và “không biết các bộ bài tây từ đâu có” là không chấp nhận được nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đối với bị cáo B là chưa chính xác. Do đó, xét kháng cáo và lời khai nhận tội của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo B, sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện A, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm hình phạt cho bị cáo B.

[2.2.3] Xét kháng cáo xin cho hưởng án treo của các bị cáo: Do tình hình đánh bạc trên địa bàn huyện A nói riêng và tỉnh An Giang nói chung có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, nên cần áp dụng hình phạt tù, không cho hưởng án treo đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: do sửa bản án hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HS- ST ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo B.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo A và B (N) phạm tội “Đánh bạc” Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Xử phạt bị cáo A 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Xử phạt bị cáo B (N) 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Về án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2020/HS-PT ngày 17/11/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:57/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về