Bản án 56/2019/DS-PT ngày 23/05/2019 về tranh chấp giao dịch dân sự thực hiện nghĩa vụ trả tiền

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 56/2019/DS-PT NGÀY 23/05/2019 VỀ TRANH CHẤP GIAO DỊCH DÂN SỰ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

Ngày 23/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2019/TLPT-DS ngày 12/02/2019 về việc “Tranh chấp giao dịch dân sự về thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2019/QĐ-PT ngày 12/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2019/QĐ-PT ngày 06/5/2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Xây dựng– Tư vấn và Thương mại TQ.

Trụ sở: Số 02, tập thể 2B, đường Cát Đá, phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Xuân Đ1– Chức vụ: Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc công ty;

Đại diện theo ủy quyền khởi kiện: Ông Đoàn Văn D– Chức vụ: Phó Giám đốc; địa chỉ: Số 02, tập thể 2B, đường Cát Đá, phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng (theo văn bản uỷ quyền ngày 11/01/2017). (có mặt)

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Công ty Luật TNHH MT do ông Lê Đình V– Chức vụ: Giám đốc công ty là đại diện của Công ty Luật TNHH MT; địa chỉ: Tầng 4, Tòa nhà Hà Thành Plaza, số 102, phố Thái Thịnh, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (theo văn bản uỷ quyền số 29/2017/UQ-MT ngày 02/11/2017) (Có mặt).

* Bị đơn: Công ty TNHH Xã hội PQ.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo pháp luật: Bà Khổng Thị T2 – Chức vụ: Giám đốc công ty (vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nam - Luật sư văn phòng luật sư Nguyễn Đình Huân - Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Khổng Thị T2 – Chức vụ: Giám đốc trung tâm (vắng mặt).

5. Người kháng cáo: Công ty TNHH Xã hội PQ - Là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/3/2012 Công ty Cổ phần Xây dựng - Tư vấn và Thương Mại TQ (viết tắt là Công ty TQ) có ký hợp đồng thi công xây dựng số 01/HĐTCXD với Công ty TNHH một thành viên thương mại và dịch vụ PQ(nay là Công ty TNHH Xã hội PQ) (viết tắt là Công ty PQ). Theo hợp đồng thì Công ty PQ giao cho Công ty TQ thực hiện việc san lấp mặt bằng công trình hạ tầng tại Trung tâm nuôi dưỡng phục hồi chức năng nạn nhân da cam tỉnh Bắc Giang. Sau khi ký hợp đồng Công ty TQ đã thực hiện việc san lấp theo hợp đồng như hai bên thoả thuận mà không có tranh chấp gì trong việc thực hiện hợp đồng. Sau khi Công ty TQ thực hiện san lấp thì đến ngày 16/6/2012 giữa Công ty TQ và Công ty PQ lập biên bản xác nhận khối lượng và đến ngày 08/7/2012 giữa hai Công ty chốt số tiền phải thanh toán theo khối lượng công việc mà Công ty TQ đã thực hiện, theo đó Công ty PQ phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TQ số tiền theo khối lượng công việc đã thực hiện xong. Do công ty PQ gặp khó khăn về nguồn vốn nên mới chỉ thanh toán cho Công ty TQ được một phần, mặc dù Công ty TQ đã nhiều lần yêu cầu Công ty PQthanh toán tiền còn nợ nhưng Công ty PQ vẫn chưa thanh toán đầy đủ cho Công ty TQ. Sau đó giữa đại diện đại diện công ty TQ và bà Khổng Thị Thuý là đại diện của Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang lại lập biên bản chốt nợ vào ngày 10/11/2016, Công ty PQcòn nợ Công ty TQ 1.710.000.000đ và hai bên thống nhất số nợ này chuyển giao cho Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang cùng với Công ty PQ có tránh nhiệm trả nợ cho Công ty TQ; Do chưa thanh toán được nên ngày 12/9/2017 bà Khổng Thị T2 là đại diện theo pháp luật cho Trung Tâm nhân đạo PQvà Công ty PQ với đại diện Công ty TQ lập biên bản làm việc với cam kết Công ty PQ và Trung Tâm nhân đạo PQsẽ trả cho Công ty TQ số tiền gốc còn nợ là 1.710.000.000đ và tiền lãi theo thoả thuận là 1%/ tháng kể từ ngày 19/7/2012 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ vẫn chưa thực hiện việc thanh toán gốc và lãi cho công ty TQ.

Nay Công ty TQ yêu cầu Tòa án tuyên buộc Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ phải liên đới trả cho Công ty TQ số tiền gốc còn nợ là 1.710.000.000đ và tiền lãi theo thoả thuận là 1%/ tháng kể từ ngày 19/7/2012 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện của bị đơn bà Khổng Thị T2 trình bày: Bà là đại diện cho Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang thống nhất với lời khai của đại diện nguyên đơn trình bày. Nay bà thừa nhận Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang còn nợ Công ty TQ số tiền gốc chưa thanh toán là 1.710.000.000đ như đại diện nguyên đơn trình bày là đúng sự thật. Tuy nhiên do hiện nay Công ty PQvà Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang đang khó khăn nên chưa có điều kiên trả một lần cho Công ty TQ. Nay Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang đồng ý sẽ có trách nhiệm liên đới trả nợ số tiền gốc và xin được trả làm nhiều lần và chốt hạn trả cuối cùng vào tháng 10/2019 sẽ trả hết số nợ gốc trên cho công ty TQ.

Riêng về tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc tính từ ngày 19/7/2012 cho đến nay như yêu cầu của đại diện nguyên đơn thì bà là đại diện cho Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang cũng đồng ý nhưng bà xin công ty TQ giảm cho Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang 50% số tiền lãi phát sinh để Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang lo liệu trả tiền gốc cho Công ty TQ. Nếu công ty TQ không đồng ý thì bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang) bà Khổng Thị T2 trình bày: Mặc dù số nợ trên phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng số 01/HĐTCXD giữa công ty TQ và Công ty PQ như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, sau khi quyết toán thì giữa Công ty PQvà Công ty TQ đã thống nhất chuyển giao phần công nợ mà Công ty PQ còn nợ Công ty TQ cho Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang và Công ty PQ đều do bà làm giám đốc là đại diện theo pháp luật có trách nhiệm liên đới trả nợ cho công ty TQ, vì Trung tâm nhân đạo PQ là đơn vị thụ hưởng toàn bộ công trình. Do vậy, nay bà với tư cách là giám đốc Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang đồng ý có trách nhiệm liên đới với Công ty PQ trả số nợ trên cho Công ty TQ. Về phương án và thời gian trả nợ gốc cũng như về tiền lãi thì bà vẫn giữ nguyên quan điểm bà là đại diện cho bị đơn đã trình bày. Bà không có yêu cầu hay đề nghị gì khác Với nội dung nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 275; Điều 280; Điều 288; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần xây dựng–Tư vấn và Thương mại TQ.

Buộc Công ty TNHH Xã hội PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty Cổ phần xây dựng–Tư vấn và Thương mại TQ tổng số tiền 3.009.600.000đồng. (Trong đó tiền gốc chưa thanh toán là 1.710.000.000đồng và tiền lãi là 1.299.600.000 đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 27/11/2018, Công ty TNHH Xã hội PQ do bà Khổng Thị T2 là giám đốc đại diện là bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Lý do kháng cáo Tòa án xét xử không khách quan, không xem xét đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên Toà phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Đình V vẫn giữ nguyên cầu kởi kiện. Đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Khổng Thị T2 không rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

* Đại diện theo pháp luật của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Khổng Thị T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Do Công ty cổ phần xây dựng và tư vấn thương mại TQ không thực hiện đúng hợp đồng thi công dẫn đến các bên chưa chốt công nợ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhân tính lãi từ ngày 19/7/2012 là không có căn cứ vì thời điểm này Công ty PQchưa đồng ý chốt công nợ. Đề nghị Hội đồng xét xử tính lãi từ ngày 10/11/2016 là ngày các bên chốt thanh toán thì mới phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghi sửa bản án về phần tiền lãi theo biên bản xác nhận công nợ ngày 10/11/2016 với số lãi 400.000.000đồng và tiền gốc là 1.710.000.000đồng.

* Đại diện theo ủy quyền của Công ty TQ ông Lê Đình V trình bày: Trên cơ sở Hợp đồng thi công xây dựng và biên bản làm việc ngày 12/9/2017 Công ty TQ khởi kiện. Công ty không đồng ý với yêu cầu tính lãi của người bảo vệ quyền và lơi ích hợp pháp của bị đơn. Mức lãi suất là 1%/tháng đã được hai bên thống nhất. Việc yêu cầu tính lại lãi là không có căn cứ và thiếu thiện chí. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty PQ, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TQ như bản án sơ thẩm. Buộc Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ phải liên đới trả cho Công ty TQ tổng số tiền 3.009.600.000đồng. (Trong đó tiền gốc chưa thanh toán là 1.710.000.000đồng và tiền lãi là 1.299.600.000 đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử, giữ nguyên bản án sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần xây dựng–Tư vấn và Thương mại TQ.

Buộc Công ty TNHH Xã hội PQ và Trung tâm nhân đạo PQ Bắc Giang phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty Cổ phần xây dựng–Tư vấn và Thương mại TQ tổng số tiền 3.009.600.000đồng. (Trong đó tiền gốc chưa thanh toán là 1.710.000.000đồng và tiền lãi là 1.299.600.000 đồng).

Do kháng cáo của Công ty TNHH Xã hội PQ không được chấp nhận nên Công ty phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 11/3/2012 giữa Công ty Cổ phần Xây dựng– Tư vấn và Thương mại TQ và Công ty TNHH một thành viên thương mại và dịch vụ PQ(nay là Công ty TNHH Xã hội PQ) ký hợp đồng thi công xây dựng số 01/HĐTCXD. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty TQ đã thực hiện hợp đồng như hai bên thoả thuận không có tranh chấp gì. Ngày 16/6/2012 và nhiều lần sau đó giữa hai bên lập biên bản xác nhận khối lượng công việc và chốt số tiền phải thanh toán theo khối lượng công việc mà Công ty TQ đã thực hiện, theo đó Công ty PQphải có trách nhiệm thanh toán tiền nợ gốc cho Công ty TQ là 1.710.000.000đ. Do chưa thanh toán nên ngày 12/9/2017 đại diện của Trung Tâm nhân đạo PQ và Công ty PQvới Công ty TQ lập biên bản làm việc với cam kết Công ty PQ và Trung Tâm nhân đạo PQ sẽ trả cho Công ty TQ số tiền gốc còn nợ là 1.710.000.000đ và tiền lãi theo thoả thuận. Sau đó Công ty TQ đòi nhiều lần nhưng đến nay Công ty PQ và Trung Tâm nhân đạo PQ vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên Công ty TQ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết buộc Công ty PQ và Trung Tâm nhân đạo PQ trả tiền gốc và lãi như đã cam kết. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là tranh chấp “Giao dịch dân sự về thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 280 Bộ luật dân sự là có căn cứ.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của Công ty TNHH Xã hội PQ về việc Tòa án xét xử không khách quan, không xem xét đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Giữa Công ty TQ và Công ty PQ có mối quan hệ đối tác làm ăn với nhau. Tháng 3/2012, Công ty PQ có thực hiện việc san lấp mặt bằng công trình hạ tầng tại Trung tâm nuôi dưỡng phục hồi chức năng nạn nhân da cam tỉnh Bắc Giang theo hợp đồng với Công ty PQ, đến 08/7/2012 và nhiều lần sau đó giữa Công ty TQ và Công ty PQ và đại diện Trung tâm nhân đạo PQ lập biên bản xác nhận số tiền phải thanh toán theo khối lượng công việc mà Công ty TQ đã thực hiện với số tiền nợ 1.710.000.000đ và theo các lời khai tại Toà án người đại diện theo pháp luật của Công ty PQ và đại diện của Trung tâm nhân đạo PQ cũng thừa nhận còn nợ Công ty TQ số tiền 1.710.000.000đ, giữa Công ty TQ và đại diện Công ty PQvà Trung tâm nhân đạo PQđã cùng nhau thống nhất số nợ trên Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQ phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Công ty TQ. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn đã được bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận và đồng ý có nghĩa vụ liên đới cùng nhau thanh toán số nợ trên cho nguyên đơn nhưng do không thống nhất được thời gian trả nợ cụ thể. Sau nhiều lần cam kết nhưng đến nay phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là Công ty PQ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trung tâm nhân đạo PQtrả tiền lãi do chậm thanh toán theo mức lãi suất 1%/tháng phát sinh trên số tiền gốc 1.710.000.000đ thì thấy: Ngày 08/7/2012 giữa hai bên xác nhận khối lượng và số tiền phải thanh toán, thời điểm này số tiền mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn 2.229.060.657đ và hai bên cam kết chậm nhất ngày 18/7/2012 phía bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ trên cho phía nguyên đơn, tuy nhiên sau đó bị đơn chỉ thanh toán cho phía nguyên đơn một phần và còn nợ 1.710.000.000đ. Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 19/7/2012 ngày Tòa án xét xử 23/11/2018 thì bị đơn còn nợ và chậm thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.710.000.000đ. Theo biên bản xác nhận chốt khối lượng và số tiền phải thanh toán ngày 08/7/2012 thì hai bên cam kết “Sau 10 ngày kể từ ngày 18/7/2012 bên A không trả tiền cho bên B thì bên A phải chịu lãi 5% tháng”. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ngày 12/9/2017 giữa đại diện theo pháp luật của Công ty PQ và Trung tâm nhân đạo PQvới đại diện Công ty TQ đã thống nhất tính lãi trên số tiền chậm thanh toán là 1%/tháng từ ngày 19/7/2012. Theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này, nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Nay nguyên đơn yêu cầu Công ty PQvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trung tâm nhân đạo PQphải trả lãi chậm trả từ ngày 19/7/2012 đến ngày 20/11/2018 là tròn 76 tháng theo mức lãi hai bên thoả thuận tại biên bản làm việc ngày 12/9/2017 là 1%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty TNHH Xã hội PQ không đưa ra được căn cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, Công ty TQ không đồng ý với ý kiến của Công ty PQ. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Xã hội PQ, giữ nguyên bản án sơ thẩm

[5]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của Công ty TNHH Xã hội PQ không được chấp nhận nên Công ty phải chịu án phí án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Xã hội PQ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 275; Điều 280; Điều 288; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần xây dựng–Tư vấn và Thương mại TQ.

Buộc Công ty TNHH Xã hội PQ và Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty Cổ phần xây dựng–Tư vấn và Thương mại TQ tổng số tiền 3.009.600.000đồng. (Trong đó tiền gốc chưa thanh toán là 1.710.000.000đồng và tiền lãi là 1.299.600.000 đồng).

Cụ thể: Buộc Công ty TNHH Xã hội PQ phải trả Công ty Cổ phần xây dựng –Tư vấn và Thương mại TQ 1.504.800.000đồng; Buộc Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang phải trả Công ty Cổ phần xây dựng –Tư vấn và Thương mại TQ 1.504.800.000đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH Xã hội PQ và Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.192.000đ.

Cụ thể: Buộc Công ty TNHH Xã hội PQ phải chịu 46.096.000đồng; buộc Trung tâm nhân đạo PQBắc Giang phải chịu 46.096.000đồng.

- Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần xây dựng –Tư vấn và Thương mại TQ 44.386.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2012/06700 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Công ty TNHH Xã hội PQ phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2012/07153 ngày 28/11/2018 tại cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận Công ty TNHH Xã hội PQ đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


153
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về