Bản án 56/2018/HS-PT ngày 21/08/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 56/2018/HS-PT NGÀY 21/08/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại Trường Trung cấp Luật Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2018/HSPT ngày 12/7/2018 đối với các bị cáo Nguyễn Trọng H và Lê Minh C do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HS-ST ngày 07/6/2018 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới.

1. Bị cáo Nguyễn Trọng H sinh ngày 03 tháng 9 năm 1997 tại Quảng Bình; nơi cư trú: thôn G, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn S và bà Nguyễn Thị Đ; chưa vợ con; có hai tiền án, cụ thể ngày 10/9/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 13 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và ngày 21/2/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; tiền sự: ngày 22/12/2016 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; nhân thân: ngày 14/8/2012 bị đưa vào Trường giáo dưỡng số 3 tại thành phố Đà Nẵng, thời gian 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 26/7/2016 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và có 2 tiền án, 1 tiền sự như đã nói trên; bị tạm giữ, tiếp đó là tạm giam từ ngày 2/3/2018; có mặt tại phiên tòa phúc thẩm.

2. Bị cáo Lê Minh C sinh ngày 10/4/1993 tại Quảng Bình; nơi cư trú: thôn G, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh N và bà Nguyễn Thị U; chưa vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 26/7/2016 bị xử phạt hành chính về hành vi làm mất trật tự công cộng, ngày 19/4/2017 bị xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; tại ngoại; có mặt tại phiên tòa phúc thẩm.

- Tòa án cấp phúc thẩm có mời đại diện tập thể giám định pháp y đã giám định đối với người bị hại Bùi Xuân T tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Nguyễn Anh P – Bác sỹ giám định pháp y có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 09/11/2017, Nguyễn Trọng H và Lê Minh C cùng Hoàng Tiến H, Hoàng Văn H, Bùi Văn V, Trương Hữu T, Đặng Thị X, Trần Thị T hẹn nhau đến ăn uống tại quán L thuộc Tổ dân phố 12, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Cùng ăn uống tại đây có một nhóm khác gồm Bùi Xuân T, Bùi Hưng T, Hoàng Anh V, Bùi Văn Đ. Sau khi ăn uống được một lúc, H cầm cốc bia đi qua bàn Thân giao lưu thì giữa H và T xảy ra mâu thuẫn. T đứng dậy ra về, khi mới đi được khoảng 2m thì H cầm cốc thủy tinh đi theo phía sau đánh từ sau tới trúng vào phần mặt bên trái của T, T liền bỏ chạy, được một đoạn đến khu vực bãi giữ xe của quán thì Lê Minh C dùng chân đạp ngã T, rồi cùng Nguyễn Trọng H tiếp tục dùng chân tay đánh vào người T. Mọi người thấy vậy đến can ngăn, nhưng H và C vẫn tiếp tục dùng tay, chân xông vào đánh Bùi Hưng T (thuộc nhóm của T), tiếp đó Lê Minh C nhặt một cốc thủy tinh ném trúng vào Hoàng Văn H làm H bị thương ở vùng mặt. Bùi Xuân T, Bùi Hưng T, Hoàng Văn H được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ thành phố Đ.

Kết luận giám định Pháp y về thương tích số 90/TGT ngày 28/12/2017 của Trung tâm giám định y khoa – Pháp y tỉnh Quảng Bình đối với Bùi Xuân T kết luận: Vết thương cách đầu trong cùng mày phải khoảng 1,7cm là 01%; vết thương từ giữa cung mày trái qua mi trên đến mi dưới mắt trái là 11%; vết thương từ khóe mắt trái đến cánh mũi trái là 3%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra toàn bộ là 15% và để lại cố tật.

Hoàng Văn H và Bùi Hưng T bị thương tích, nhưng không yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây thương tích đối với họ.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKSĐH- TA ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố Nguyễn Trọng H về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015; truy tố Lê Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HS-ST ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã Quyết định:

Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Trọng H;

Căn cứ khoản 1 Điều 134; Điều 17, Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Lê Minh C;

Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 590, và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H và Lê Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Hình phạt: xử phạt Nguyễn Trọng H 3 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/3/2018.

Quyết định tạm giam Nguyễn Trọng H thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/6/2018) để bảo đảm thi hành án.

Xử phạt Lê Minh C 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Trọng H và Lê Minh C liên đới bồi thường số tiền 20.500.000 đồng cho bị hại Bùi Xuân T, theo phần Nguyễn Trọng H phải bồi thường 10.250.000 đồng; Lê Minh C phải bồi thường 10.250.000 đồng.

4. Án phí: bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu án phí 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 512.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Lê Minh C phải chịu án phí 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 512.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm còn tuyên việc chịu lãi suất đối với số tiền bồi thường chậm thi hành án; quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo Luật thi hành án dân sự và quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm.

Ngày 12/6/2018, bị cáo Nguyễn Trọng H kháng cáo với nội dung cho rằng mức án 3 năm tù mà Tòa án cấp sơ thầm án dụng với bị cáo là cao, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Ngày 19/6/2018, bị cáo Lê Minh C kháng cáo cũng với nội dung cho rằng mức án 15 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là cao, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, đồng thời đề nghị giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với người bị hại Bùi Xuân T, vì cho rằng kết quả giám định chưa chính xác.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án cho rằng mức án mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với hai bị cáo là thỏa đáng, không nặng, nên không có cơ sở để thỏa mãn kháng cáo của hai bị cáo. Tuy nhiên trước ngày xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng H đã nhờ mẹ bồi thường thay mình số tiền 5.000.000 đồng cho người bị hại, đồng thời mẹ bị cáo có xuất trình tài liệu xác định H có thành tích cứu hộ trong đợt lũ lụt năm 2016; bị cáo Lê Minh C đã bồi thường 5.000.000 đồng cho người bị hại, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho H 6 tháng tù, cho C 4 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Nội dung vụ án mà Bản án sơ thẩm đã xác định hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo mà Bản án sơ thẩm đã xác định là có căn cứ.

 [2]. Nguyễn Trọng H bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm xử phạt 13 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” vào ngày 10/9/2015, tiếp đó ngày21/02/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 6  tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” (Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã có hiệu lực pháp luật), nên lần phạm tội này của bị cáo Nguyễn Trọng H là tái phạm nguy hiểm.

 [3]. Trong vụ án này, tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại là 15%, công cụ phạm tội mà Nguyễn Trọng H sử dụng là chiếc cốc thủy tinh, dùng để đánh vào mặt người bị hại được xác định là hung khí nguy hiểm. Mặt khác khung hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội này theo Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn so với khung hình phạt của Bộ luật hình sự năm 1999 (khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm; khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định khung hình phạt tù từ 2 năm đến 6 năm).

 [4]. Do đó án sơ thẩm đã áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị định số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Cố ý gấy thương tích” theo các điểm d, đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.

 [5]. Bị cáo Lê Minh C chỉ dùng tay, chân đánh người bị hại mà không dùng hung khí nguy hiểm do đó trường hợp phạm tội của Lê Minh C lẽ ra phải xử theo Bộ luật hình sự năm 1999, vì khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt như nhau, tức là trường hợp phạm tội của Lê Minh C quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 so với Bộ luật hìnhsự năm 1999 được giữ nguyên, không có lợi. Do đó  việc án sơ thẩm xét xử bị cáo LêMinh C theo khoản 1  Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là nhầm lẫn.

 [6]. Tuy nhiên vấn đề này không có kháng cáo, kháng nghị, hơn nữa đây chỉ là vi phạm về hình thức không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại, cũng như Nhà nước, nên cần giữ nguyên, chỉ nêu để rút kinh nghiệm.

 [7]. Nguyễn Trọng H phạm tội trong trường hợp có hai tình tiết tăng nặng định khung; nhân thân rất xấu, cụ thể ngoài hai tiền án đã được dùng để xác định tình tiết tăng nặng định khung tái phạm nguy hiểm, còn có 1 tiền sự bị xử phạt về hành vi gây rối trật tự công cộng, một lần bị đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, một lần bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Do đó sau khi đã xem xét các tình tiết giảm nghẹ trách nhiệm hình sự, án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H mức án 3 năm tù, là mức trung bình của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là thỏa đáng, không nặng. Kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở.

 [8]. Lê Minh C tuy không phải là người khởi xướng, vai trò trong vụ án hạn chế hơn Nguyễn Trọng H, nhưng quá trình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự hung hãn, tích cực. Mặt khác Lê Minh C có nhân thân xấu, từng hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi làm mất trật tự công cộng và “Trộm cắp tài sản”. Do đó án sơ thẩm sau khi xem xét cái tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với Lê Minh C, đã xử phạt Lê Minh C mức án 15 tháng tù, là mức thấp của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là thỏa đáng, không nặng.

 [9]. Về vấn đề Lê Minh C kháng cáo đề nghị giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với người bị hại thấy rằng tại phiên tòa phúc thẩm hôm, nay sau khi Giám định viên Nguyễn Anh P giải thích rõ căn cứ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Bùi Xuân T tại Kết luận giám định pháp y số 90/TGT ngày 28/12/2017 của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y, Sở y tế tỉnh Q, bị cáo Lê Minh C đã rút phần kháng cáo này, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo này.

 [10]. Trước ngày mở phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Trọng H, Lê Minh C mỗi bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 đồng cho người bị hại (Nguyễn Trọng H nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị Đ bồi thường thay), đồng thời bà Nguyễn Thị Đ xuất trình tài liệu xác nhận Nguyễn Trọng H đã có thành tích cứu hộ trong đợt lũ lụt năm 2016. Đây là các tình tiết mới ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, đồng thời là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Trọng H; quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 đối với Lê Minh C, nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Trọng H 06 tháng tù, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Minh C 04 tháng tù về các tình tiết mới này.

 [11]. Các nội dung khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cần được giữ nguyên. Riêng phần bồi thường trách nhiệm dân sự, tuy không có kháng cáo, nhưng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo đã bồi thường được một phần thiệt hại cho người bị hại, nên cần sửa lại án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự mà các bị cáo phải bồi thường tiếp.

 [12]. Các bị cáo được giảm án, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửa dụng án phí, lệ phí Tòa án, không buộc các bị cáo Nguyễn Trọng H, Lê Minh C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh C về đề nghị giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với bị hại Bùi Xuân T.

2. Căn cứ các điểm b khoản 1 Điều 355 điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa án sơ thẩm như sau:

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Nghi quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, tuyên bố Nguyễn Trọng H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Nguyễn Trọng H 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 02/3/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trọng H 45 ngày để bảo đảm thi hành án (Có quyết định tạm giam riêng).

Áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, tuyên bố Lê Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Lê Minh C 11 (mười một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự buộc Nguyễn Trọng H và Lê Minh C liên đới bồi thường tiếp cho người bị hại Bùi Xuân T số tiền 10.500.000 đồng, theo phần của mỗi bị cáo là 5.250.000 đồng.

3. Các bị cáo Nguyễn Trọng H, Lê Minh C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nhưng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật nếu số tiền bồi thường trên chưa được thi hành thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; tương ứng với thời gian chậm trả, để tra cho bên được thi hành án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án, bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 21/8/2018.


50
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về