Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 18/10/2019 về hôn nhân gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 55/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/10/2019 VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 221/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2019 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hoài V, sinh năm 1994

Đa chỉ: Thôn Hống, xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Bị đơn: Anh Đỗ Mạnh D, sinh năm 1989

Đa chỉ: Thôn Me, xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên toà có mặt chị V, anh D vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Đỗ Thị Hoài V trình bày: Chị và anh Đỗ Mạnh D kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy vào ngày 01 tháng 11 năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng tính tình không hợp, anh D không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ. Mặc dù vợ chồng đã được hai bên gia đình và địa phương phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 2 năm 2019 và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin ly hôn anh Đỗ Mạnh D.

* Về quan hệ con cái: Vợ chồng chị không có con chung. Hiện chị không mang thai.

* Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ti biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2019, bà Nguyễn Thị Ngọc là mẹ đẻ của anh Dương trình bày: Anh D và chị V tự do tìm hiểu kết hôn, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thụy Ninh vào năm 2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh D, chị V chung sống cùng nhau tại gia đình bà được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng anh D, chị V đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2018 ( âm lịch) đến nay. Anh D vẫn sinh sống cùng gia đình bà tại xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy nhưng khi chị V gửi đơn xin ly hôn thì anh D bận đi làm ăn xa, ở tỉnh ngoài địa chỉ không cố định, chỉ về nhà vào các dịp nghỉ, lễ, tết nên bà đã thay mặt anh D nhận các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh D và thông báo nội dung cho anh D biết. Quan điểm của anh D thông qua bà và gia đình như sau: “Về quan hệ hôn nhân anh D đồng ý ly hôn với chị V. Anh D và chị V không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung không có, anh D không đề nghị Tòa án giải quyết. Do công việc bận mải nên anh D đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh”.

Ti biên bản xác minh ngày 25/9/2019 đại diện Ủy ban nhân dân xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã cung cấp: Anh D và chị V là công dân của xã Thụy Ninh, hai anh chị tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Thụy Ninh vào ngày 01/11/2018. Sau khi kết hôn chị V, anh D chỉ chung sống một thời gian ngắn thì ly thân nên địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn. Về quan hệ con cái, vợ chồng anh D, chị V không có con chung. Về quan hệ tài sản, địa phương không nắm bắt được.

Bị đơn anh Đỗ Mạnh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa nhưng anh D không đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, chị V trong quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh vắng mặt vì vậy đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt anh D và không nhận xét về việc chấp hành pháp luật của bị đơn tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật xử cho chị V được ly hôn anh D. Về quan hệ con cái, vợ chồng anh D, chị V không có con chung nên không đặt ra giải quyết, về tài sản không đặt ra giải quyết. Về án phí, chị Đỗ Thị Hoài V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định, các bên có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghe phần trình bày của đương sự và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị Hoài V và anh Đỗ Mạnh D đều có hộ khẩu thường trú tại xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Chị Đỗ Thị Hoài V có đơn xin ly hôn và trong quá trình giải quyết từ khi thụ lý vụ án đến khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Anh Đỗ Mạnh D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Mạnh D.

[2]. Về hôn nhân, chị Đỗ Thị Hoài V và anh Đỗ Mạnh D xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình vào ngày 01/11/2018 là hôn nhân hợp pháp. Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì thấy chị V trình bày là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến chị phải bỏ về nhà mẹ đẻ để ỏ và hai bên sống ly thân từ đầu năm 2019 không ai quan tâm đến ai. Chị V đã làm đơn xin ly hôn được Tòa án thụ lý và giải quyết, gia đình anh D đã nhận được các văn bản của Tòa án và cam kết giao lại cho anh D nhưng anh D không lên Tòa án tham gia các buổi làm việc và hòa giải nên không đưa ra được giải pháp gì để hàn gắn mâu thuẫn giữa vợ chồng thể hiện anh không thiện chí và thiết tha gì với việc đoàn tụ với chị V. Chị Đỗ Thị Hoài V nhất quyết xin ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh D theo quy định. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy căn cứ vào các điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị Hoài V ly hôn đối với anh Đỗ Mạnh D.

[3]. Về quan hệ con cái, vợ chồng chị V, anh D không có con chung nên không đặt ra giải quyết

[4]. Về quan hệ tài sản, chị Đỗ Thị Hoài V không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, anh Đỗ Mạnh D vắng mặt do vậy Hội đồng xét xử không xem xét và giải quyết về tài sản.

[5]. Về án phí và quyền kháng cáo đối với Bản án: Chị Đỗ Thị Hoài V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các bên có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Hoài V được ly hôn anh Đỗ Mạnh D.

2. Về con chung: Chị Đỗ Thị Hoài V và anh Đỗ Mạnh D không có con chung nên không đặt ra giải quyết

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị Hoài V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Đỗ Thị Hoài V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001931 ngày 21/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo Bản án: Chị Đỗ Thị Hoài V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt anh Đỗ Mạnh D, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc niêm yết hợp lệ bản án.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST ngày 18/10/2019 về hôn nhân gia đình

Số hiệu:55/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về