Bản án 54/2019/HS-PT ngày 24/07/2019 về tội buôn bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 54/2019/HS-PT NGÀY 24/07/2019 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2019/HSPT ngày 24 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Phan Trí H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Phan Trí H, sinh năm 1985 tại Bình Phước; HKTT: Khu phố 3, phường T M, thị xã P L, tỉnh B P. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Phan Thành Tr, sinh năm 1955; Họ và tên mẹ: Võ Thị Ngọc Á, sinh năm 1955; Có vợ là Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1984 và có 02 người con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2018 đến ngày 21/01/2019. Bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 22/01/2019 đến nay. (Có mặt).

Về nhân thân: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số 57/2005/HSPT ngày 18/7/2005.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Ông Chu Văn Tiến - Văn phòng luật sư Vinh và Tình, thuộc đoàn luật sư tỉnh Bình Phước. (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 20/10/2018, Phan Trí H điều khiển xe ô tô tải hiệu KIA, chở vợ là Nguyễn Thị Ngọc Lê cùng hai con là Phan Gia Nguyên và Phan Gia Phát đi từ nhà tại khu phố 3, phường Thác Mơ, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước đến chợ Thanh H thuộc xã Thanh H, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước để bán bánh Oisi. Khi đến khu vực chợ Thanh H thì H để vợ, con xuống ăn cơm. Sau đó, H điều khiển xe ô tô đến khu vực phía sau chợ Thiện Hưng thuộc xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp mua 05 bao đường cát (loại 50kg/01bao) với số tiền 2.800.000đ và 425 cây thuốc lá (260 cây hiệu JET và 165 cây hiệu HERO) với số tiền 66.875.000đ của một người đàn ông tên Hải mà H đã gọi điện trước đó nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Tại đây, H bỏ số đường cát lên thùng xe ô tô, số thuốc lá bỏ vào các vách của thùng xe ô tô rồi điều khiển xe quay lại chợ Thanh H đón vợ, con đi về thị xã Phước Long. Khi H đi đến khu vực thôn Bình Điền, xã Bình Sơn, huyện Phú Riềng thì bị lực lượng Công an huyện Phú Riềng kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ tang vật gồm:

- 05 bao đường cát loại 50kg/01bao, trên vỏ bao có in chữ “CAMBODIA WHITE SUGAR”;

- 2.600 bao thuốc lá hiệu JET (260 cây, mỗi cây 10 bao, mỗi bao 20 điếu) và 1.650 bao hiệu HERO (165 cây, mỗi cây 10 bao, mỗi bao 20 điếu);

- 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy J6, màu đen;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng kem;

- 01 xe ô tô tải hiệu KIA, Biển Kiểm Soát: 93C – 056.33.

Ngày 22/10/2018, Cơ quan Công an huyện Phú Riềng có công văn số 474/CV đề nghị Sở Công thương tỉnh Bình Phước xác định chủng loại, nguồn gốc đối với 4.250 bao thuốc lá điếu tạm giữ ở trên. Ngày 25/10/2018, Sở Công thương tỉnh Bình Phước có Công văn số 1685/SCT-TM xác định: Toàn bộ số thuốc lá điếu trên không có tem nhập khẩu, không in hình ảnh cảnh báo sức khỏe và chữ viết Tiếng Việt. Qua đối chiếu với các quy định hiện hành, toàn bộ số thuốc lá điếu trên không được nhập khẩu vào Việt Nam Ngày 03/12/2018, Cơ quan Công an huyện Phú Riềng có công văn số 03/CV đề nghị Sở Công thương tỉnh Bình Phước xác định chủng loại, nhãn hiệu, nguồn gốc xuất xứ đối với 05 bao đường cát tạm giữ ở trên. Ngày 28/12/2018, Sở Công thương tỉnh Bình Phước có Công văn số 1685/SCT-TM trả lời: Do đường cát không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh có điều kiện theo quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ. Vì vậy, Sở Công Thương đề nghị Cơ quan Công an huyện Phú Riềng nghiên cứu các quy định về nhãn hàng hóa tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các quy định của pháp luật liên quan để xử lý theo quy định Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Trí H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phan Trí H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2018 đến ngày 21/01/2019 Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 22 tháng 4 năm 2019, Phan Trí H làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phan Trí H bổ sung yêu cầu kháng cáo của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc được áp dụng hình phạt tiền.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo H là người có nhân thân xấu từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Căn cứ các quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các quy định về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phan Trí H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo bổ sung thêm kháng cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền, xét thấy đối với hình phạt này thì pháp luật không quy định điều kiện để áp dụng đối với tội Buôn bán hàng cấm nhưng bị cáo là người có hoàn cảnh khó khăn, nếu cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền thì sẽ ảnh hưởng đến việc thi hành án nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Ngoài tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt thì bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ mới so với cấp sơ thẩm áp dụng như bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, khi bị xét xử ở cấp sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm vợ bị cáo đã bỏ đi và để lại 02 đứa con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Khi bị bắt về hành vi buôn bán hàng cấm bị cáo H đã bị tạm giữ tạm giam 03 tháng, trong thời gian tạm giam trên đã có tác dụng răn đe, giáo dục. Do đó không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Đối với kháng cáo xin hưởng án treo thì bị cáo không đủ điều kiện. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Trí H thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định tài sản và các tài liệu chứng cứ khác được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài nên vào ngày 20/10/2018, Phan Trí H đã có hành vi mua 2.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet và 1.650 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero từ xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp mang về thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước nhằm mục đích bán lại cho một số đối tượng để hưởng lợi. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm cụ thể là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc buôn bán thuốc lá nhập lậu là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo, xin áp dụng hình phạt tiền của bị cáo Phan Trí H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2005 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội mới điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo.

Tuy nhiên, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là người chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi hai con còn nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng đầy đủ và đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 02 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các quy định về án treo thì xét bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có hoàn cảnh khó khăn, đang phải trực tiếp nuôi 02 con nhỏ, vợ bị cáo đã bỏ đi, ngoài ra theo như trình bày của bị cáo hiện nay bị cáo còn một số nợ lớn chưa chi trả. Xét thấy nếu áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo sẽ gây khó khăn cho bị cáo cũng như công tác thi hành án. Do đó, các kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6].Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 ; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo và kháng cáo xin áp dụng hình phạt tiền của bị cáo Phan Trí H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 12/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Tuyên bố bị cáo Phan Trí H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phan Trí H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2018 đến ngày 21/01/2019 Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Trí H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


130
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về