Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Trong các ngày 18 và ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2019, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 58/2019/QĐDS-ST ngày 18/11/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989;

ĐKHKTT: thôn T, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn B, sinh năm 1988;

ĐKHKTT: thôn N, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Song H, sinh năm 1961 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1962; (Bà N uỷ quyền cho ông H)

Đều trú tại: thôn N, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Chị H có mặt tại phiên tòa ngày 18/11/2019, vắng mặt tại phiên tòa ngày 28/11/2019; ông H có mặt; anh B vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Trước đây, chị và anh Vũ Văn B là vợ chồng, do không thể chung sống được với nhau nên đầu năm 2019 chị đã đề nghị Tòa án giải quyết về ly hôn và nuôi con. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 61/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh Vũ Văn B, giao con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho anh B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh B tự nguyện không yêu cầu chị phải cấp dưỡng nuôi con, chị có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Tuy nhiên từ sau khi vợ chồng ly hôn đến nay, anh B nuôi con không đảm bảo vì khi anh B còn ở nhà cũng không trực tiếp chăm sóc con chung mà để cho ông bà nội là ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay, anh B đã đi xuất khẩu lao động tại N. Do công việc của ông bà nội bận, buổi tối không có ai dạy dỗ, bảo ban cháu học. Vì vậy, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm Công ty in ấn M ở xã Q, huyện Tứ Kỳ, mức thu nhập trung bình từ 08 triệu đến 09 triệu đồng/tháng, chị đi làm từ 7 giờ 30 sáng đến 18 giờ tối, trong đó có tăng ca 1,5 tiếng. Về chỗ ở: hiện nay chị đang ở một mình nhà một tầng của bố mẹ đẻ, bố đẻ chị đã chết, mẹ đẻ chị hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, ngoài ra các chị em trong gia đình không có ai ở nhà.

- Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, bị đơn anh Vũ Văn B trình bày:

Trước đây, anh và chị H là vợ chồng hợp pháp. Do có nhiều mâu thuẫn, không thể chung sống với nhau, chị H đã làm đơn xin ly hôn anh và yêu cầu giải quyết con chung, hai bên đã thoả thuận được toàn bộ các nội dung vụ án nên tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 61/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ đã quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của hai bên về việc giao con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho anh nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện của anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Nay, chị H xin thay đổi nuôi con, anh không nhất trí vì: Chị H sống một mình, đi làm công nhân thường xuyên đi sớm về muộn, không có thời gian đưa đón con; Về kinh tế: anh cũng không biết hiện chị H làm gì và mức thu nhập như thế nào; mặc dù không có tài liệu chứng minh nhưng trong cuộc sống chị H là người không chung thuỷ, dẫn đến vợ chồng ly hôn. Anh đang làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại N nên chưa có thu nhập để xuất trình cho Toà án. Trường hợp anh đi xuất khẩu lao động, anh sẽ tạm thời nhờ bố mẹ anh thay anh chăm sóc con chung, sau khi về nước anh sẽ trực tiếp nuôi con, hiện bố mẹ anh vẫn khoẻ mạnh, có thể hỗ trợ anh trong việc nuôi con. Về điều kiện ăn ở, sinh hoạt: Hiện bố con anh đang ở chung với bố mẹ đẻ, bố mẹ anh chỉ có hai chị em, chị gái anh đã lập gia đình có cuộc sống riêng, nhà ở của bố mẹ anh rộng rãi, có phòng riêng đủ cho bố con anh sinh hoạt. Hơn nữa, cháu C đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng xin được ở với anh và ông bà nội, cháu đang có cuộc sống, học tập ổn định, nếu phải thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của con. Vì vậy, anh xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, trường hợp anh được tiếp tục nuôi con, anh tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Song H, bà Vũ Thị N trình bày: Ông, bà là bố mẹ đẻ anh Vũ Văn B và là ông bà nội của cháu Vũ Nguyễn Thành C. Anh B đã đi xuất khẩu lao động tại N từ ngày 24/9/2019, thời hạn theo hợp đồng khoảng 3 năm, trước khi đi anh B đã uỷ quyền cho ông ở nhà thay mặt anh B chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C. Ông nhất trí với quan điểm của anh B, không nhất trí giao cháu C cho chị H nuôi dưỡng bởi các lý do như anh B đã trình bày với Toà án. Mặc dù ông bà không thể dạy cháu học nhưng buổi tối vẫn có bác ruột cháu (chị gái anh B) ở cùng xóm dạy bảo cháu học. Cho đến nay, cháu C vẫn khoẻ mạnh, phát triển bình thường, lực học của cháu đạt kết quả tốt. Trường hợp Toà án giao cháu C cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng, vợ chồng ông sẽ hỗ trợ anh B nuôi con với những điều kiện tốt nhất. Trong thời gian anh B đi lao động, vợ chồng ông sẽ tạm thời chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C cho đến khi anh B về nước, ông bà sẽ giao lại cháu C cho anh B nuôi dưỡng;

- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã Q và cán bộ lao động thương binh xã hội xã Q cung cấp: Từ khi chị H, anh B kết hôn đã ở chung với vợ chồng ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N (bố đẻ anh B). Cháu C cũng ở với ông H, bà Nhuân từ nhỏ, được ông bà chăm sóc cẩn thận. Khi anh chị ly hôn, anh B đi làm ăn xa, cháu C đều do ông bà nội chăm sóc, thỉnh thoảng có thấy chị H về thăm con. Hiện ông H, bà N còn khoẻ mạnh, gia đình thuộc hộ kinh tế khá giả, nhà ở khang trang sạch sẽ. Nay chị H xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã Q và cán bộ lao động thương binh xã hội xã Qc và trưởng thôn T, xã Q nơi chị H sinh sống, được cung cấp: Từ khi ly hôn với anh B, chị H đã chuyển khẩu về địa phương sinh sống, hiện làm công nhân tại xã Q. Chị H sống một mình tại nhà của bố mẹ đẻ, không ở cùng ai, nhà đất rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, đảm bảo cuộc sống sinh hoạt. Bố mẹ chị H sinh được ba người con, bố chị H đã chết, mẹ đẻ và hai em gái của chị H đều đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan hiện chưa về. Nay, chị H xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn và xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Kết quả làm việc với đại diện Trường tiểu học Q và giáo viên chủ nhiệm lớp 2D, được cung cấp: Cháu Vũ Nguyễn Thành C là con của chị H, anh B, cháu học tại trường từ năm lớp 1 đến nay, hiện đang học lớp 2D do cô Phạm Thị Hồng T là chủ nhiệm. Qua theo dõi, quản lý thấy cháu có sức khoẻ tốt, chăm chỉ học tập, ngoan ngoãn, chú ý học trên lớp, tư tưởng ổn định. Hàng ngày, ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N trực tiếp đưa đón cháu, các khoản tiền đóng góp theo quy định của Nhà trường là do ông bà nội trực tiếp nộp; Riêng khoản tiền ăn bán trú tại trường của cháu C, cả tháng 8 và tháng 9/2019 là do chị Nguyễn Thị H (mẹ cháu) nộp trực tiếp cho nhà trường. Nay, chị H xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn và xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà ngày 18/11/2019, chị H có quan điểm trường hợp anh B và gia đình không gây khó khăn cho chị trong việc thăm nom, đón con, chị sẽ không thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng đến trước thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin thay đổi nuôi con của chị H. Giao cho chị Nguyễn Thị H được nuôi dưỡng con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm Toà án thụ lý vụ án, bị đơn anh Vũ Văn B đang cư trú tại huyện Tứ Kỳ, nên TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định của BLTTDS. Sau đó anh B mới đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, thì Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ phải tiếp tục giải quyết vụ án mà không thay đổi thẩm quyền theo quy định tại Điều 471 BLTTDS; Bị đơn anh Vũ Văn B đã được Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh B.

[2] Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 61/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ đã giao con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho anh Vũ Văn B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh B tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Nay chị Nguyễn Thị H xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn B không đồng ý.

[3] Xét thấy, việc xin nuôi con của chị H, anh B là hoàn toàn chính đáng, xuất phát từ tình cảm của cha, mẹ đối với con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi dưỡng, cần phải xem xét một cách khách quan, toàn diện về mọi mặt, tất cả vì quyền lợi của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử thấy: Về điều kiện kinh tế tại thời điểm hiện nay thì cả anh B và chị H đều đi làm và có thu nhập, hai bên đều có điều kiện về chỗ ở, sinh hoạt đảm bảo cho việc nuôi con là như nhau. Tuy nhiên, chị H và anh B mới ly hôn nhau từ tháng 3/2019, tại thời điểm Toà án giải quyết ly hôn, việc giao con cho anh Vũ Văn B nuôi dưỡng là do hai bên tự nguyện thoả thuận, không bị ai ép buộc. Hơn nữa, từ khi cháu Vũ Nguyễn Thành C sinh ra đã ở với vợ chồng anh B và ông bà nội, được ông bà nội chăm sóc từ bé. Khi chị H, anh B ly hôn, cháu vẫn ở với anh B và ông bà nội cho đến nay, cháu đã có cuộc sống ổn định, học tập, phát triển bình thường, chăm ngoan lễ phép. Bản thân cháu C đã trên 7 tuổi, khi được Toà án ghi lời khai, có sự chứng kiến của cả chị H và anh B, cháu vẫn thể hiện nguyện vọng xin được ở với bố và ông bà nội (kể cả trong trường hợp anh B đi lao động ở nước ngoài). Hiện chị H sinh sống một mình, bản thân chị H cũng làm công nhân, thời gian làm việc hàng ngày từ 7 giờ sáng đến 18 giờ, trong đó có tăng ca 1,5 tiếng nên thời gian đưa đón con sẽ rất khó khăn vì không nhờ được ai giúp đỡ. Mặc dù giao con cho anh B (do ông bà nội nuôi dưỡng), chị H vẫn có quyền thăm nom, đón con về chăm sóc, giáo dục khi rảnh rỗi hoặc những ngày lễ, tết được nghỉ, tại phiên tòa ngày 18/11/2019, chị H cũng có quan điểm trường hợp anh B và ông bà nội cháu tạo điều kiện để chị thăm gặp, đón con để chăm sóc chị sẽ không thay đổi việc nuôi con. Bản thân anh B đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cũng có thời hạn, trong thời gian không có nhà, anh B cũng đã nhờ bố mẹ đẻ là ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N tạm thời chăm sóc. Kết quả xác minh cũng cho thấy, cháu C khoẻ mạnh, phát triển bình thường, học tập ổn định. Nếu phải thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của con chung. Vì vậy, việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu C là không cần thiết, nên không chấp nhận yêu cầu của chị H theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của anh B không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 471 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cho anh Vũ Văn B được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của anh B về việc không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, theo biên lai số AA/2017/0005239 ngày 09/9/2019.

3. Về quyền kháng cáo: Ông H có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; chị H, anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tứ Kỳ - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về