Bản án 54/2018/DS-ST ngày 21/09/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L X, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 54/2018/DS-ST NGÀY 21/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố LX xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2018/TLST-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2018/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2018/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1/Nguyên đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: ấp P H, thị trấn P M, huyện P T, tỉnh An Giang.

2/Bị đơn: Công ty TNHH Xuất nhập khẩu H L V

- Do bà Nguyễn Thị P L – Giám đốc Công ty làm đại diện.

Trụ sở: Số D, đường T Q K, phường M T, thành phố L X, tỉnh An Giang.

(Nguyên đơn ông Lê Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Công ty TNHH Xuất nhập khẩu H L V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 3 năm 2018, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10 tháng 5 năm 2018 và tờ tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Minh T trình bày:

Ngày 30/11/2017, do mối quan hệ bạn bè từ trước nên ông Lê Minh T có cho bà Nguyễn T P L là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vay số tiền 30.000.000 đồng, không tính lãi. Bà L nói với ông T vay số tiền trên để tạm ứng lương cho công nhân và hứa hẹn 10 ngày sau sẽ trả.

Để làm tin, bà L có viết biên nhận nợ cùng ngày, có đóng dấu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V giao cho ông T giữ. Từ khi vay đến nay, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vẫn chưa trả lại số tiền vốn cho ông T và ông T đã nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu bà L là Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V trả số tiền trên nhưng bà L nhiều lần hứa hẹn và trì hoãn không thực hiện trả tiền.

Từ khi vay đến nay, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vẫn chưa trả lại số tiền vốn cho ông T.

Nay ông Lê Minh T yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H LV phải trả cho ông số tiền là 30.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

* Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa: Ông Lê Minh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 18/9/2018 lý do ông đi học không thể xin phép nghỉ. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vắng mặt đến lần thứ hai không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V theo thủ tục chung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L X phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng:

Thẩm phán chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Hội đồng xét xử tiến hành các thủ tục từ khi khai mạc phiên tòa cho đến phần tranh tụng tại phiên tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thư ký đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng: Ông Lê Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 18/9/2018, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V là phù hợp với quy định tại Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V phải trả cho ông T số tiền 30.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Ông Lê Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 18/9/2018. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Minh T khởi kiện yêu cầu ông Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V trả số tiền đã vay nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố LX theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu Hoàng Lan Vy đã được triệu tập hợp lệ đến lần hai nhưng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vẫn vắng mặt tại phiên tòa và tống đạt hợp lệ, được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V không gây trở ngại cho việc xét xử.

Toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không thực hiện quyền cũng như không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự, không có yêu cầu Tòa án giải quyết, không tranh chấp các vấn đề có liên quan trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xét đến. Căn cứ Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017; khoản 5 Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V.

[2] Về nội dung:

Theo các giấy tờ, tài liệu do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, cụ thể: Biên nhận lập ngày 30/11/2017, bị đơn vay của nguyên đơn 30.000.000 đồng. Từ đó, nhận thấy giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dịch dân sự về vay tài sản trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện nên phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V vắng mặt tại phiên tòa, tại biên bản hòa giải ngày 23/7/2018 ông T trình bày có xác lập hợp đồng vay thể hiện tại chứng cứ là giấy nhận nợ vay ngày 30/11/2017 ông T giao nộp cho Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thể hiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V có vay của ông Lê Minh T. Như vậy giữa ông T với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V có xác lập hợp đồng vay tài sản với nhau và hợp đồng vay tài sản này được hai bên đương sự xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, có làm giấy tờ. Hội đồng xét xử công nhận giấy nhận nợ vay ngày 30/11/2017 là có thật, do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông T yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V trả nợ là có cơ sở.

Ông T khởi kiện yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V phải trả cho ông số tiền là 30.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Do đó, Hội đồng xét xử buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V phải thanh toán trả cho ông Lê Minh T số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

[3] Về án phí:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 6 khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng (số tiền phải trả là 30.000.000 đồng x 5%). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, nên ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và ông Lê Minh T được nhận tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh T.

- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông Lê Minh T số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

* Về án phí:

- Hoàn trả lại cho ông Lê Minh T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000 đồng

(Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008224 ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L X.

- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất khẩu H L V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

- Về nghĩa vụ thi hành án:

+ Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

+ Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


40
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về