Bản án 534/2014/KDTM-PT ngày 21/04/2014 về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH    

BẢN ÁN 534/2014/KDTM-PT NGÀY 21/04/2014 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ   

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2014 và ngày 21 tháng 4 năm 2014 Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2013/KDTM-PT ngày 12/12/2013 về việc Tranh chấp hợp đồng thuê nhà.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 83/2013/KDTM-ST ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 180/2014/QĐXX - PT ngày 04 tháng 3 năm 2014 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2014/QĐHPT-PT ngày 26 tháng 3 năm 2014 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế

Địa chỉ: 247 Điện Biên Phủ, Phường 15, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Có ông Đặng Hùng Linh, CMND số 020589576 cấp ngày 20/10/2005 tại Công an TP. Hồ Chí Minh làm đại diện được ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 20/3/2014 của Giám đốc Công ty.

Có bà Nguyễn Thị Minh Huyền, Luật sư của Công ty Luật hợp danh Luật Việt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Bị đơn: Bà Hồ Thị Nga - ông Trịnh Long Dũng

Địa chỉ: 125/11 Nguyễn Cửu Vân, Phường 17, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Có bà Hồ Thị Hồng Loan, CMND số 022250075 cấp ngày 25/6/2002 tại Công an TP. Hồ Chí Minh làm đại diện theo hợp đồng ủy quyền số 03/307 ngày 12/02/2014 tại Phòng Công chứng số 6.

Có ông Nghiêm Xuân Lý và ông Giang Văn Quyết, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hop pháp cho bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2012, nguyên đơn là công ty TNHH Giao nhận Thươmg mại ML Toàn Thế trình bày:

Ngày 30/10/2008, Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn thế (Sau đây gọi tắt là Công ty Toàn Thế) ký hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD với ông Trịnh Long Dũng và bà Hồ Thị Nga về việc thuê toàn bộ cao ốc số 125/11 Nguyên Cửu Vân, Phường 17, quận Bình Thạnh có diện tích 1575m2, giá thuê là 8,40 USD/m2/tháng, thời hạn thuê là 15 năm.

Để hợp thức hóa hợp đồng nêu trên ngày 17/7/2009 đôi bên đã ký hợp đồng thuê nhà ở được công chứng số 16434 với giá thuê là 50.000.000 đồng/tháng. Ngày 24/08/2009, đôi bên tiếp tục ký phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD01 về việc xác nhận ông Dũng và bà Nga đã nhận đủ tiền cọc và tiền thuê nhà.

Ngày 21/12/2011, Công ty Toàn Thế gửi văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Ngày 24/12/2011, ông Dũng và bà Nga có văn bản không đồng ý và yêu cầu tiếp tục thực hiện các điều khoản trong hợp đồng số 011008/ML-AD.

Ngày 04/01/2013, nguyên đơn có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông Dũng và bà Nga hoàn trả lại số tiền cọc 248.000 đô la Mỹ được quy đổi ra tiền Việt Nam ước tính 5.000.000.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Đối với hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008: Hợp đồng tính bằng đô la Mỹ chỉ nhằm bảo đảm giá trị hợp đồng suốt thời gian thuê là 15 năm và được quy đổi theo tỷ giá của Ngân hàng Ngoại thương tại thời điểm thanh toán, tất cả những khoản thanh toán bên thuê đều trả bằng tiền đồng Việt Nam. Khoản tiền đặt cọc thực tế cũng nhận bằng tiền đồng Việt Nam nên biên nhận giao tiền ghi “Toàn bộ số tiền đặt cọc....được quy đổi theo tỷ giá NHNN). Khoản 1 Điều 4 của hợp đồng ghi rõ: “Đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu...Bồi thường cho bên còn lại khoản tiền bằng trị giá 30% giá trị thời hạn hợp đồng còn lại”.

Do đó, việc Công ty Toàn Thế yêu cầu chấm dứt hợp đồng là đã vi phạm thỏa thuận giữa đôi bên, ông Dũng và bà Nga không đồng ý trả lại số tiền cọc, số tiền này sẽ được trừ vào khoản bồi thường thiệt hại cho bên thuê.

Đối với hợp đồng thuê nhà số 16434 ngày 17/07/2009: Điều 2 của phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD ghi “Do nhu cầu của bên B-bên thuê, giá thuê trên hợp đồng 16434 ghi là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng nhưng bên B cam kết thực hiện đúng số tiền thuê như đã thỏa thuận tại Hợp đồng 011008/ML-AD”. Thực chất đây là việc mà bên cho thuê đã tạo điều kiện nhằm giúp cho bên B giảm chi phí khi đóng thuế thu nhập cá nhân cho bên A nên lỗi hoàn toàn là của nguyên đom vì bị đom không có bất cứ quyền lợi gì đối với hợp đồng này.

Đơn yêu cầu phản tố ngày 08/08/2012 và tại Tòa án, bị đơn yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà do nguyên đơn vị phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà trong thời hạn 06 tháng liên tục và yêu cầu bồi thường do đom phương chấm dứt thực hiện thỏa thuận thuê nhà trước thời hạn làm thiệt hạ cho bị đơn sau khi trừ số tiền cọc với số tiền là 4.581.231.375 đồng, tiền thuê nhà là 2.702.182.997 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán tiền lãi do chậm trả tiền thuê nhà tính đến thời điểm xét xử.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đon tranh luận: Giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm điều cấm của pháp luật, bị đơn không thể cho ràng không biết pháp luật khi ký hợp đồng thuê nhà trong đó giá thuê được thỏa thuận bằng ngoại tệ là vi phạm về ngoại hối. Hợp đồng ngày 30/10/2008 có thời hạn 15 năm nhưng không thực hiện thủ tục công chứng. Sau đó, đôi bên đã ký hợp đồng được công chứng nhưng lại không thực hiện theo hợp đồng này. Do vậy, giao dịch giữa đôi bên là vô hiệu do vi phạm điều cấm và phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Nguyên đơn có quản lý, sử dụng mặt bằng thuê nên phải thanh toán tiền thuê nhà, nhưng hành vi của bị đơn đơn phương cắt điện, nước là đã vi phạm. Việc bị đơn cho rằng bị thiệt hại do việc không trả được tiền vốn và lãi cho ngân hàng là không liên quan đến hợp đồng thuê nhà giữa nguyên đơn và bị đơn. sổ tiền cọc nhằm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê nhà chứ không phải để khấu trừ vào việc bồi thường thiệt hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: Nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà, đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng thỏa thuận. Hợp đồng thuê nhà ngày 30/10/2008 không vi phạm pháp luật về ngoại hối vì theo Nghị định số 202/2004Nghị định số 95/2011 không quy định hành vi ghi giá bằng ngoại tệ trong hợp đồng là vi phạm. Giữa nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận giá thuê bằng ngoại tệ nhưng cũng thỏa thuận việc thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam và thực tế đã thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam nên không vi phạm quy định của pháp luật về ngoại hổi. Nguyên đơn không chứng minh được nguồn ngoại tệ trả cho bị đơn nên việc nguyên đơn trình bày đã thanh toán cho bị đơn ngoại tệ là không có cơ sở. Theo Nghị quyết số 04/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì thỏa thuận nêu trên không bị coi là vô hiệu. Do đó, hợp đồng ngày 30/10/2008 có gía trị pháp lý.

Đối với số tiền cọc, do nguyên đơn đã từ chối thực hiện hợp đồng thể hiện qua việc không thanh toán tiền thuê nhà, liên tục chậm ữễ thanh toán tiền thuê nhà và đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn phải chịu mất tiền cọc để trừ vào số tiền bồi thường thiệt hại, trả tiền thuê nhà từ ngày 09/03/2012 đến ngày 24/03/2013, tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định tại Điều 305 của Bộ Luật Dân sự và còn phải bồi thường cho bị đơn theo thỏa thuận do vi phạm hợp đồng dẫn đến bị đơn phải chịu thiệt hại.

Tại bản án sơ thẩm số 83/2013/KDTM - ST ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định:

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đổi với hợp đồng thuê nhà số 16434 ngày 17/9/2009 đã bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 122, 124, 127, và 129 Bộ luật Dân sự do các bên giao kết hợp đồng che giấu giá thuê nhà thực tế mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đông thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008.

Đối với hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 cũng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122, 124 và Điều 410, bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 425... Do hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết vì các bên giao kết nên các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận.

Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Đối với số tiền thuê nhà: Mặc dù hai hợp đồng bị vô hiệu nhưng tại Tòa các đương sự đều thừa nhận giá thuê căn nhà là 34.402 USD và thời hạn thanh toán. Nguyên đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho bị đơn số tiền thuê nhà cho đến ngày nguyên đơn thực tế trả nhà cho bị đơn.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại theo hợp đồng: Do hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 bị vô hiệu do vi phạm về hình thức của hợp đồng, nguyên đơn và bị đơn cùng có lỗi khi không thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký đối với hợp đồng này mà lại ký hợp đồng thuê nhà ở được công chứng số 16434 ngày 17/9/2009 có nội dung giả tạo về giá thuê nhà nhằm che dấu giá thuê thật được thể hiện tại Phụ lục hợp đồng 011008/ML-AD ngày 24/8/2009 nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Từ những nhận định trên, quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố Hợp đồng thuê nhà ở số 16434 ngày 17/9/2009, Hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 và phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD/PL01 ngày 24/8/2009 được ký kết giữa bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng và Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế vô hiệu và bị hủy bỏ.

2. Bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng phải trả cho Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế số tiền đặt cọc là 5.226.600.000 (Năm tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm ngàn) đồng và chi phí mà Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế đã đầu tư tại căn nhà 125/11 Nguyễn Cửu Vân, phường 17, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và hỗ trợ di dời là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế có đơn yêu cầu thi hành án, bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng còn phải chịu lãi theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời hạn, số tiền chậm trả.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn là bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng, buộc Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải thanh toán số tiền thuê nhà còn thiếu và tiền lãi do chậm thanh toán tổng cộng là 2.950.181.117  (Hai tỷ chín trăm năm mươi triệu một trăm tám mươi mốt ngàn một trăm mười bảy) đồng. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng đổi với Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế do đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 với số tiền là 4.581.231.375 đồng.

Ngày 21/10/2013 bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 83/2013/ KDTM - ST ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Đại diện theo pháp luật Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 83/2013/ KDTM-ST.

Tại phiên Tòa phúc thẩm ngày 15 tháng 4 năm 2014:

Ý kiến của nguyên đơn: Nguyên đơn kháng cáo mục 3 của bản án sơ thẩm. Cụ thể đề nghị cấp phúc thẩm bác yêu cầu phản tố của bị đơn trong việc yêu cầu nguyên đơn phải trả số tiền thuê nhà còn thiếu và lãi chậm thanh toán tổng cộng 2.950.181.117 đồng. Lý do: Cả 2 hợp đồng thuê nhà bị vô hiệu, cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải trả tiền thuê nhà từ ngày 09/03/2012 đến ngày 24/03/2013 và tiền lẫi do chậm thanh toán là không phù hợp quy định pháp luật. Bên cạnh đó, bị đơn có hành vi cản trở nguyên đơn trong việc sử dụng căn nhà thuê như: Cúp điện, cúp nước

Ý kiến của bị đơn: Bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay Bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm về các điểm sau: Họp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD không bị vô hiệu; Bị đơn giữ lại tiền đặt cọc của nguyên dơn để trừ vào tiên bồi thường hợp đồng theo tỷ lệ 30% giá trị thời gian thuê còn lại theo quy định tại Điều 4 của hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD; Sau khi cấn trừ tiền đặt cọc và tiền thuê nhà còn thiếu thì nguyên đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho bị đơn số tiền là 7.556.871.536 đồng.

Ý kiến của Luật su bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư nêu tóm tắt vụ kiện, phân tích vụ kiện và cho rằng hợp đồng thuê nhà bị vô hiệu, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền thuê nhà còn thiếu và lãi chậm trả. Qua phân tích luật sư nguyên đơn cho rằng kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Ý kiến của các Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Các Luật sư nêu tóm tắt vụ kiện, phân tích vụ kiện và cho rằng hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD không bị vô hiệu, nguyên đơn là bên vi phạm hợp đồng. Căn cứ vào Điều 4 của hợp đồng nguyên đơn phải bồi thường 30% giá trị hợp đồng thời gian thuê còn lại cho bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn buộc nguyên đơn phải ữả cho bị đơn số tiền thuê nhà còn thiếu và lãi chậm trả cùng tiền bồi thường thiệt hại. Sau khi cấn trừ vào số tiền đặt cọc thì nguyên đơn phải ứả cho bị đơn số tiền 7.556.871.536 đồng. Qua phân tích nội dung vụ án, các luật sư bị đơn cho rằng kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Tại phiên Tòa phúc thẩm ngày 21 tháng 4 năm 2014:

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Viện kiểm sát nhận thấy Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sựLuật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét việc kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm ừa tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1) Về hình thức:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn là Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế và đơn kháng cáo của bị đơn là bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

2) Về nội dung:

Xét các hợp đồng thuê nhà:

- Đối với hợp đồng thuê nhà số 16434 ngày 17/9/2009: Hợp đồng này đã bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 122,124,127, và Điều 129 Bộ luật Dân sự do các bên giao kết hợp đồng nhằm che giấu giá thuê nhà thực tế mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008.

- Đối với hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008: Tại Điều 2 của hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 các bên thỏa thuận giá thuê nhà được tính bằng đồng Dollar Mỹ. Căn cứ vào Khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Ngoại hối của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 18/3/2013 quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối như sau: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Như vậy, thỏa thuận giá thuê theo Điều 2 của hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 giữa hai bên cũng bị vô hiệu.

Cấp sơ thẩm xác định cả hai hợp đồng thuê nhà số 16434 ngày 17/9/2009 và số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 bị vô hiệu và xử lý tài sản bằng cách buộc bên cho thuê phải hoàn trả tiền đặt cọc và buộc bên thuê phải trả tiền thuê trong thời gian sử dụng nhà là có căn cứ. Tuy nhiên khi xử lý hợp đồng vô hiệu cấp sơ thẩm không căn cứ Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự để buộc bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại là có thiếu sót, cần phải sửa, cụ thể:

Xét trong việc ký kết và thực hiện hai hợp đồng thuê nhà nói trên cấp sơ thẩm xác định do hai bên cùng có lỗi là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm nhận định do hai bên cùng có lỗi để bác yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị đơn là vi phạm vào Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự.

Xét việc bị đơn kháng cáo yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại theo tỷ lệ 30% giá trị thời gian thuê còn lại nhưng bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh bị đơn đã bị thiệt hại 30% giá trị thời gian thuê còn lại nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, trong hồ sơ thể hiện việc bị đơn đã xuất trình được chứng cứ chứng minh khoản thiệt hại do bị đơn phải sửa chữa công trình cao ốc văn phòng với số tiền là 132.380.000 đồng. Xét thiệt hại này là thực tế, xảy ra trong quá trình thực hiện hai hợp đồng thuê nhà bị vô hiệu nói trên. Do cả hai bên cùng có lỗi nên mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại, cụ thể: Nguyên đơn phải hoàn trả cho bị đơn 50% khoản thiệt hại mà bị đơn đã bỏ ra để sửa chữa công ưình cao ốc văn phòng là 132.380.000 đồng thành tiền 66.190.000 đồng. Ngoài ra trong hồ sơ vụ án, bị đơn còn xuất trình chứng cứ chứng minh các khoản bị thiệt hại như trả tiền vay Ngân hàng, báo giá sửa chữa thang máy... Xét các thiệt hại này của bị đơn (nếu có) là không liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thuê nhà giữa các bên nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét việc nguyên đơn kháng cáo cho rằng do hợp đồng vô hiệu nên nguyên đơn không phải trả tiền thuê nhà từ ngày 09/03/2012 đến ngày 24/03/2013 và tiền lãi do chậm thanh toán là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì nguyên đơn là người chiếm giữ và sử dụng tòa nhà từ ngày 09/03/2012 đến ngày 24/03/2013 nên nguyên đơn phải có trách nhiệm ữả tiền thuê nhà cho bị đơn. Do nguyên đơn không trả nhà và cũng không trả tiền thuê nhà cho bị đơn nên bản án sơ thẩm buộc nguyên đơn phải trả tiền thuê nhà và lãi chậm trả là có cơ sỡ nên được giữ nguyên.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền là 9.841.641.375 đồng. Tiền án phí là 117.841.641 đồng.

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền là 3.016.371.117 đồng. Tiền án phí là 92.327.422 đồng.

3) Về án phí phúc thẩm:

Nguyên đơn là Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 01388 ngày 28/10/2013 của Chi Cục Thi hành Dân sự quận Bình Thạnh.

Bị đơn là bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng không phải chịu án phí phúc thẩm nên được nhận lại số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 01403 ngày 29/10/2013 của Chi Cục Thi hành Dân sự quận Bình Thạnh.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sựLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 122, 124, 127, 129, 137 và Điều 429 của Bộ Luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 83/2013/KDTM - ST ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên Hợp đồng thuê nhà ở số 16434 ngày 17/9/2009, Hợp đồng thuê nhà số 011008/ML-AD ngày 30/10/2008 và phụ lục hợp đồng số 011008/ML-AD/PL01 ngày 24/8/2009 được ký kết giữa bà Hồ Thị Nga, ông Trịnh Long Dũng và Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế là vô hiệu.

2. Bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng phải trả cho Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế số tiền đặt cọc là 5.226.600.000 (Năm tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu sáu ứăm ngàn) đồng và chi phí mà Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế đã đầu tư tại căn nhà 125/11 Nguyễn Cửu Vân, Phường 17, quận Bình Thạnh, TP.HCM và hỗ trợ di dời là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn là bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng, buộc Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải thanh toán số tiền thuê nhà còn thiếu và tiền lãi do chậm thanh toán tổng cộng là 2.950.181.117  (Hai tỷ chín trăm năm mươi triệu một trăm tám mươi mốt ngàn một trăm mười bảy) đồng. Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường của bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng, buộc Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải bồi thường thiệt hại cho bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng số tiền là 66.190.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tât cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Về án phí sơ thẩm:

Bị đơn bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền là 9.841.641.375 đồng. Tiền án phí là 117.841.641 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 54.074.438 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 03438 ngày 21/8/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng còn phải nộp số tiền là 63.767.203 đồng.

Nguyên đơn là Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền là 3.016.371.117 đồng. Tiền án phí là 92.327.422 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án sổ 09714 ngày 08/3/2012 và 56.600.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 04889 ngày 04/4/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế còn phải nộp số tiền là 34.477.422 đồng.

5. Về án phí phúc thẩm:

Nguyên đơn Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 01388 ngày 28/10/2013 của Chi Cục Thi hành Dân sự quận Bình Thạnh. Công ty TNHH Giao nhận Thương mại ML Toàn Thế đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Bị đơn là bà Hồ Thị Nga và ông Trịnh Long Dũng không phải chịu án phí phúc thẩm nên được nhận lại số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 01403 ngày 29/10/2013 của Chi Cục Thi hành Dân sự quận Bình Thạnh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hánh án dân sự.

Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.


338
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 534/2014/KDTM-PT ngày 21/04/2014 về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

Số hiệu:534/2014/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 21/04/2014
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về