Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 17/10/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 53/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/10/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện D - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 70/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 và số 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Lan P - Sinh năm: 1973, “có mặt”

Địa chỉ: Ấp 7, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Kiều D - Sinh năm: 1968, “vắng mặt”

Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 08/4/2019, bản tự khai ngày 06/5/2019, nguyên đơn bà Phan Lan P trình bày: Bà và ông Kiều D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/3/1997. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau giữa bà và ông D phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông D không quan tâm, chăm sóc gia đình, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bà cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không được. Bà và ông D không còn chung sống với nhau từ tháng 01/2019 đến nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông D nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Kiều D.

Về con chung: Bà P và ông D có hai con chung là Kiều Ngọc N (sinh ngày 27/6/1997), Kiều Lan U (sinh ngày 16/12/2001). Kiều Ngọc N đã thành niên và khỏe mạnh nên bà không có yêu cầu gì về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi Kiều Lan U, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P xác định không có nợ chung với ông D, không yêu cầu Tòa án giải quyết về yêu cầu chia tài sản chung.

Tòa án xác minh và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với ông Kiều D nhưng ông D không đến Tòa để Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải.

Tại phiên tòa, bà P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông Kiều D vắng mặt tại phiên tòa, nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phan Lan P và ông Kiều D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K - huyện U, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà P xác định bà và ông D phát sinh mâu thuẫn, không khắc phục được nên chung sống không hạnh phúc, không còn chung sống với nhau từ tháng 01/2019. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông D không đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nên Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông D đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của bà Phan Lan P được ly hôn với ông Kiều D là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung:

Kiều Ngọc N đã thành niên và khỏe mạnh, bà P không yêu cầu gì về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà P yêu cầu trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên là Kiều Lan U, cháu U cũng có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi, ông D không đến Tòa để trình bày ý kiến về yêu cầu nuôi con chung nên cần giao cho bà P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung Kiều Lan U là phù hợp.

Bà P không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung, ông D cũng không đến Tòa để trình bày ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông D. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định không có nợ chung với ông D và không yêu cầu Tòa án giải quyết về yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Phan Lan P phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Lan P. Bà Phan Lan P được ly hôn ông Kiều D.

2. Về con chung:

- Con chung Kiều Ngọc N đã thành niên. Giao cho bà Phan Lan P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung chưa thành niên là Kiều Lan U (sinh ngày 16/12/2001).

- Bà P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông Kiều D.

- Ông Kiều D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà Phan Lan P, ông Kiều D có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Bà Phan Lan P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0002631 ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D. Do đó, bà P đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành, theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 17/10/2019 về ly hôn

Số hiệu:53/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về