Bản án 53/2018/HS-PT ngày 14/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 53/2018/HS-PT NGÀY 14/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 03 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 336/2017/TLPT-HS ngày 14 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Lê Trường V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 126/2017/HS-ST ngày 14/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Lê Trường V, sinh năm 1987 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ2, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã Đ2, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu P và bà Trần Thị Kim T2; Có vợ Nguyễn Thị L (chưa đăng kí kết hôn), chưa có con; Tiền án,Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại – Có mặt;

Ngoài ra còn có người bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 11 giờ 30 phút ngày 11/8/2017, sau khi uống rượu với bạn tại khu 12, xã Đ3, huyện T3, Lê Trường V điều khiển xe mô tô 60K8-2286 đến nhà nghỉ N ở ấp 1, xã P1, huyện T3 nghỉ trưa. Văn thuê phòng số 6 ngủ đến 12 giờ cùng ngày thì thức dậy, kiểm tra ví thấy không còn tiền nên V đi ra quầy tiếp tân đểmượn điện thoại gọi bạn mang tiền tới trả tiền phòng. Khi ra quầy tiếp tân, V thấy chị Huỳnh Phương T4 đang nằm ngủ trên võng, chiếc điện thoại Iphone 7 màu trắng để dưới nền gạch. Lúc này, V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đến lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đem đi cất giấu ở mương nước cách nhà nghỉ N khoảng 100 mét. Sau đó, V quay lại nhà nghỉ tiếp tục ngủ. Đến 14 giờ cùng ngày, chị T4 phát hiện mất điện thoại nên đã trình báo Công an xã P1 và cung cấp hình ảnh camera ghi lại hành vi trộm cắp điện thoại của V. Tại Công an xã P1, V đã khai nhận hành vi trộm cắp điện thoại như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng 128G đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 60K8-2286 thuộc sở hữu của ông LêHữu P, xét thấy không liên quan đến vụ án đã trả lại cho ông P.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL.ĐGTSTT ngày 24/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T3 kết luận:

- 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng 128G trị giá 7.000.000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 126/2017/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trường V 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15/11/2017, bị cáo Lê Trường V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt theo hướng cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Trường V khẳng định bản án hình sự sơ thẩm số 126/2017/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo không giam giữ để làm phụ giúp gia đình.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Trường V về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt là đã xem xét chiếu cố cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết đặc biệt nào khác nên không có cơ sở để giảm mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Lợi dụng sơ hở của chị Huỳnh Phương T4 trong lúc đang ngủ say, bị cáo Lê Trường V đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đến lấy chiếc điện thoại của chị T4 đang để trên nền gạch, bỏ vào túi quần rồi đem đi cất giấu. Sự việc đã được camera nhà nghỉ ghi lại và tại Cơ quan điều tra bị cáo cũng đã thừa nhận. Tại bản kết luận định giá tài sản xác định trị giá chiếc điện thoại Iphone 7 mà bị cáo lấy trộm là 7.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Lê Trường V theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo do nảy sinh lòng tham đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật. Do đó, cần có mức án nghiêm để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cũng cần xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại cũng có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Mức án cấp sơ thẩm xử bị cáo 04 tháng tù giam là hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[4] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt theo hướng cải tạo không giam giữ nhưng không cung cấp được tình tiết đặc biệt nào mới để Hội đồng xét xử xem xét, do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trường V, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 126/2017/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành;

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và điều 47 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Trường V 04 (Bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

3. Về án phí:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


137
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HS-PT ngày 14/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:53/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về