Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 27/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ công khai xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 301/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2017/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Kim Ng, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ K, ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí Ng, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp D, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Chị Ng có mặt, anh Ng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2017, bản tự khai ngày 03/11/2017 và các lời khai tiếp trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lý Kim Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ng tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào tháng 12/2013, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống cùng với gia đình của Chị. Tháng 01/2014, khi đi khám sức khỏe thì Chị phát hiện bị bệnh u nang buồng trứng, dẫn đến bị hiếm muộn, không có con được. Vợ chồng đã chữa trị thời gian dài nhưng không có kết quả nên phát sinh mâu thuẫn, anh Ng mỗi lần nhậu về là tìm cách gây gổ với Chị. Từ tháng 12/2016, anh Ng trở về nhà anh để sinh sống và đi làm ăn, ít khi về nhà. Từ thời gian này, vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ gì, cha mẹ hai bên đã khuyên nhủ, động viên vợ chồng nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và kiên quyết được ly hôn anh Ng.

Về con chung: Không.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Chí Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời khai của anh Ng.

Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật và đề nghị xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Ng.

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ng, xử cho chị Ng được ly hôn anh Ng.

Về kiến nghị: Khắc phục thời hạn xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Ng nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nguyễn Chí Ng.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng và anh Ng xây dựng gia đình với nhau năm 2013, có tổ chức lễ cưới và đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai vào ngày 13/12/2013, do cả hai cùng tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

[3] Chị Ng yêu cầu ly hôn, anh Ng vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được. Xét mâu thuẫn vợ chồng (theo lời chị Ng trình bày) chủ yếu do chị Ng bị bệnh bệnh u nang buồng trứng, dẫn đến không sinh được con dù đã chữa trị thời gian dài; từ đó, anh Ng không cảm thông, chia sẽ mà còn tìm cớ gây gổ với chị mỗi khi có men rượu. Từ tháng 12/2016, anh Ng trở về nhà cha mẹ anh để sinh sống và đi làm ăn, vợ chồng không gặp nhau để bàn bạc đoàn tụ, bỏ mặt không còn quan tâm đến nhau. Qua tham khảo lời khai của mẹ ruột anh Ng bà Lê Thị Tuyết L vào ngày 16/01/2018, thì vợ chồng chị Ng không có mâu thuẫn gì nhưng do chị Ng bị hiếm muộn về con cái nên vợ chồng hay gây gổ nhau; từ đầu năm 2017, anh Ng đã bỏ đi làm ăn và không cho bà biết địa chỉ. Như vậy, có cơ sở khẳng định tình cảm giữa vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, không thể tồn tại cuộc hôn nhân mà không có tình cảm nên xử cho chị Ng được ly hôn anh Ng là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: không có.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ng khai không có; anh Ng vắng mặt, không có lời khai nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Ng chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình.

[7] Về quan điểm, ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Kiến nghị của viện kiểm sát về vi phạm thời hạn xét xử là đúng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 266, 273 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lý Kim Ng đối với anh Nguyễn Chí Ng. Xử cho chị Ng được ly hôn anh Ng.

2. Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai số 004272 ngày 03/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

3. Chị Ng được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ng được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản sao bản án.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 27/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Mỹ - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về