Bản án 53/2017/HSST ngày 12/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 53/2017/HSST NGÀY 12/12/2017 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2017, đối với các bị cáo:

1- Họ và tên: Nguyễn Minh T (Đỏ), sinh năm 1993; HKTT khóm B, TT. MA, huyện X, Đồng Tháp và chỗ ở khóm 1, TT. MA, huyện X, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 04/12; con ông Nguyễn Văn NA, sinh năm 1964 (còn sống) và bà Lê Thị A, sinh năm 1965 (còn sống); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự không; tạm giam ngày 12/10/2017 và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2- Họ và tên: Võ Quốc H, sinh năm 1996; HKTT và chỗ ở khóm B, TT. MA, huyện X, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 09/12; con ông Võ Văn B, sinh năm 1954 (còn sống) và bà Thạch Thị Kim CA, sinh năm 1962 (còn sống); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự không; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Hồ Thanh P  - sinh năm:1990. (có đơn xin xét xử vắng mặt) HKTT: Ấp TP, xã TP, huyện CĐ, Tp. Cần Thơ.

Chỗ ở: Khóm A, TT. MA, huyện X, Đồng Tháp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Văn PU - sinh năm: 1987. (có mặt) Địa chỉ: Khóm D, TT. MA, huyện X, Đồng Tháp.

2. Võ Ngọc M- sinh năm: 1996. (có mặt) Địa chỉ: Ấp PT, xã TX, huyện TL, Tp. Cần Thơ.

NHẬN THẤY

Hai bị cáo Nguyễn Minh T, Võ Quốc H bị Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Minh T, Võ Quốc H và anh Hồ Thanh P là những người cùng thuê phòng trọ tại nhà trọ Qùy Trư (địa chỉ khóm A, thị trấn MA, huyện X). Anh P thuê phòng trọ số 1, T thuê phòng số 2 sát phòng anh P, còn H thuê phòng số 7. Khoảng 12 giờ, ngày 10/7/2017, lợi dụng lúc anh P đi vắng H qua phòng trọ của T chơi và bàn bạc vào phòng anh P lấy trộm tài sản, thì T đồng ý. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T mở la phông phòng của mình leo qua phòng của anh P, mở la phông vào trong lấy 01 máy tính xách tay và 01 cục sạc để trên bàn, H đứng trước cửa phòng của T cảnh giới, nếu thấy anh P về thì gõ vào cửa phòng báo động cho T biết.

Sau khi lấy tài sản mang về phòng của T, T và H bàn bạc mang tài sản trộm được đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. H về phòng lấy xe mô tô hiệu Honda Click màu trắng biển kiểm soát 66L1-9444, do H mượn của chị Võ Ngọc M (bạn gái H), H điều khiển xe chở T mang máy tính xách tay và cục sạc đến khóm D, thị trấn MA, cầm cho anh Lê Văn PU với số tiền 400.000 đồng, chia nhau mỗi người 200.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Đến 17 giờ cùng ngày, anh P về phát hiện tài sản bị mất nên trình báo Công an thị trấn MA xử lý.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 59, ngày 25/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười kết luận:

- 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell, màu xám đen trị giá 4.000.000 đồng;

- 01 (một) cục sạc pin máy tính hiệu Dell, màu đen trị giá 100.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Hồ Thanh P đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác.

Anh Lê Văn PU yêu cầu T và H liên đới trả lại số tiền 400.000 đồng. H đã tự nguyện khắc phục xong, anh P không có yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp Mười đã tạm giữ gồm:

- 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell; 01 (một)  cục sạc hiệu Dell.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Click biển kiểm soát 66L1- 9444.

Xét thấy không cần thiết tạm giữ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp Mười đã trao trả:

- 01 (một)  máy tính xách tay và 01 (một) cục sạc cho anh Phong.

- 01 (một)  xe mô tô hiệu Honda Click biển kiểm soát 66L1-9444 cho chị M.

Tại Bản Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 24 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T (Đỏ) và bị cáo Võ Quốc H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, hai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hai bị cáo T, H khai nhận: Do hai bị cáo có mẫu thuẫn với anh P, nên hai bị cáo mới vào phòng anh P lấy trộm tài sản cho bỏ ghét, chứ không có mục đích lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Xét lời khai của hai bị cáo là không phù hợp, nếu hai bị cáo không cần tiền tiêu xài thì không nhất thiết sau khi lấy được tài sản lại nhanh chóng đem tài sản của anh P đi tiêu thụ và tiêu xài cá nhân hết. Tuy nhiên, hai bị cáo vẫn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Từ đó có đủ căn cứ khẳng định, do không có tiền tiêu xài, nên vào khoảng 12 giờ ngày 10/7/2017, tại nhà trọ Quỳ Trư, bị cáo H từ phòng trọ số 7 qua phòng trọ số 02 của bị cáo T bàn bạc vào phòng trọ số 01 của anh P lấy trộm tài sản, bị cáo T đồng ý. Lợi dụng lúc anh P đi vắng, bị cáo T lén lúc vào phòng lấy trộm một máy tính xách tay và một cục sạc pin máy tính, còn bị cáo H thì đứng phía trước phòng của anh P cảnh giới. Tổng giá trị tài sản mà hai bị cáo chiếm đoạt là 4.100.000 đồng (theo Bản Kết luận định giá tài sản số 59 ngày 25/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười). Xét lời khai của hai bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố hai bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn có căn cứ.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tháp Mười đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Minh T từ 06 đến 09 tháng tù.

+ Bị cáo Võ Quốc H từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong.

Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Xét thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Và cần phân tích vai trò của từng bị cáo, để có mức hình phạt đối với từng bị cáo, như sau:

Bị cáo T là người đã thành niên, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lý ra, khi bị cáo H bàn bạc rủ bị cáo đi lấy trộm tài sản của anh P, bị cáo phải biết khuyên ngăn, nhưng do bị cáo nghiện ma túy và không có tiền tiêu xài, nên bị cáo đồng ý. Trong vụ án này, bị cáo là người trực tiếp lấy trộm tài sản của anh P.

Đối với bị cáo H là người đã thành niên, sống bằng nghề làm thuê. Đáng lý ra, bị cáo phải biết chí thú làm ăn để tạo ra của cải vật chất lo cho bản thân, giúp ích cho xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền mà không phải bỏ công sức lao động vất vả, nên bị cáo rủ bị cáo T đi lấy trộm máy tính của anh P, nên phạm tội.

Do đó, bị cáo T và bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò ngang bằng nhau.

Tại phiên tòa, bị cáo H đồng ý số tiền bồi thường cho anh P, thì bị cáo tự nguyện bồi thường luôn cho bị cáo T. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết “Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo là phù hợp với điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của hai bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Do đó, việc đưa hai bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly hai bị cáo một thời gian, để hai bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Hồ Thanh P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn PU yêu cầu bị cáo T và bị cáo H liên đới trả lại số tiền anh đã cầm máy tính là 400.000 đồng, bị cáo H đã tự nguyện khắc phục xong. Tại phiên tòa, anh PU không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Về vật chứng: Đã giải quyết xong.

Hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Hai bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T (Đỏ) và bị cáo Võ Quốc H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 12/10/2017.

- Bị cáo Võ Quốc H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2- Về án phí:Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Minh T, bị cáo Võ Quốc H: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Hai bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng, người bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2017/HSST ngày 12/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:53/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tháp Mười - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về