Bản án 53/2017/HNGĐ-ST ngày 04/07/2017 về tranh chấp hôn nhân

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH L AN

BẢN ÁN 53/2017/HNGĐ-ST NGÀY 04/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN

Ngày 0 4 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2017/TLST-HN ngày 05 tháng 6 năm 201 7 về “Tranh chấp hôn nhân ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2017/QĐXX- ST ngày 20 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trương Thị Anh Đ, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Ấp 3, xã L, huyện Đ, tỉnh L An (có mặt).

2. Bị đơn: Phạm Thành H, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Ấp 1, xã C, huyện Đ, tỉnh L An (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 22/5/2017 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trương Thị Anh Đ trình bày: Chị và anh H tổ chức lễ cưới năm 1999, hôn nhân tự nguyện không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, mâu thuẩn phát sinh từ năm 2006 và ly thân năm 2012 đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp. mâu thuẩn kéo dài tình cãm vợ chồng phai nhạt, hôn nhân không khả năng hàn gắn, chị Đ yêu cầu không công nhận vợ chồng với anh H.

- Về nuôi con: Chị Đ và anh H có 1 người con Phạm Văn L, sinh ngày 14/10/2000 chị đang nuôi con. Chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản hòa giải ngày 20/6/2017 bị đơn anh Phạm Thành H trình bày: Nguyên nhân mâu thuẩn do tính tình vợ chồng không phù hợp, anh đồng ý không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Đ.

- Về con chung: Anh đồng ý để chị Đ tiếp tục nuôi con Phạm Văn L, sinh ngày 14/10/2000, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Trương Thị Anh Đ và anh Phạm Thành H là “Tranh chấp hôn nhân” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại các Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh H đã được Tòa án tống H hợp lệ các văn bản tố tụng có tham gia hòa giải và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh H.

 [2] Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Đ và anh H cưới nhau vào năm 1999, anh chị chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn, năm 2006 xảy ra mâu thuẩn do tính tình không phù hợp. Năm 2012 anh chị không còn chung sống với nhau nữa. Trong quá trình giải quyết chị Đ và anh H đề nghị Tòa án không công nhận chị và anh H là vợ chồng là hoàn toàn chính đáng cần được chấp nhận

[3] Về nuôi con: Trong quá trình chung sống giữa chị Đ và anh H có 01 người con chung Phạm Văn L, sinh ngày 14/10/2000, chị Đ đang nuôi con, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con phù hợp nguyện vọng của cháu L nên cần chấp nhận theo điều 81 Luật hôn nhân gia đình, chị Đ không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

[5] Về nợ chung: Không có.

[6] Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Anh Đ và anh Phạm Thành H được quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm  2014;

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Trương Thị Anh Đ và anh Phạm Thành H là vợ chồng

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con Phạm Văn L, sinh ngày 14/10/2000 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Anh H không cấp dưỡng nuôi con, được quyền đến thăm và chăm sóc con chung sau ly hôn. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; Người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.

3. Về án phí: Chị Trương Thị Anh Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp tại biên lai số: 0000043 ngày 30 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Chị Đ đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống H hợp lệ.


88
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2017/HNGĐ-ST ngày 04/07/2017 về tranh chấp hôn nhân

Số hiệu:53/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về