Bản án 52/2020/HS-ST ngày 24/11/2020 về tội chứa mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 52/2020/HS-ST NGÀY 24/11/2020 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2020/TLST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 tại xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi ĐKHKTT: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư tr : thôn Q, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Huỳnh Thị A1; Chồng là Bùi Minh A2 (đã ly hôn) và 01 con;

Tiền sự: không;

Tiền án: Bản án số 10/2017/HSST ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Chứa mại dâm. Bị cáo chấp hành án phạt tù đến ngày 16/8/2018 được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Ngày 21/01/2019, bị cáo chấp hành xong án phạt tù.

Nhân thân: Ngày 27/11/2015, UBND huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý. Ngày 30/11/2015, bị cáo đã nộp tiền phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/7/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 06/7/2020 đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

1- Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1973; Nơi cư tr : thôn H, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

2- Chị Trần Thị T, sinh năm 1981; Nơi cư tr : thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh;

3- Anh Vương Đức L, sinh năm 1982; Nơi cư tr : thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương;

4- Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1987; Nơi cư tr : Khu T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Nhng người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối năm 2018, Nguyễn Thị H hợp đồng thuê ngôi nhà tại mặt đường Quốc lộ 5A thuộc thôn Q, xã Vĩnh H, huyện B, tỉnh Hải Dương của vợ chồng chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1977 có địa chỉ tại khu dân cư T, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để mở quán “Cà phê thư giãn T . Khoảng tháng 5 và tháng 6/2020, Ngô Thị H1 và Trần Thị T đến gặp H xin làm nhân viên phục vụ và bán dâm tại quán. H đồng ý và th a thuận nếu khách đến quán có nhu cầu massage thư giãn thì T, H1 sẽ massage cho khách và thu 150.000 đồng/người/lượt, trong đó H được 80.000 đồng còn nhân viên được 70.000 đồng; nếu khách có nhu cầu mua dâm thì T, H1 bán dâm cho khách và thu 250.000 đồng/người/lượt, trong đó H được 130.000 đồng còn nhân viên được 120.000 đồng. Toàn bộ tiền chi phí ăn, ở, sinh hoạt của T, H1 do H chịu trách nhiệm chi trả.

Khong 20 giờ ngày 04/7/2020, khi H, T, H1 đang ở quán thì Vương Đức L và Đỗ Văn C đến. Chiến gặp H đặt vấn đề mua dâm với nhân viên của quán, H đồng ý. C đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để trả tiền mua dâm, H cầm tiền và bảo T, H1 vào phòng bán dâm cho L và C. H đưa cho T, H1 mỗi người 01 bao cao su rồi T và C vào phòng số 02, H1 và L vào phòng số 03 của quán để quan hệ tình dục. Khoảng 20 giờ 35 ph t cùng ngày, trong l c T đang quan hệ tình dục với C, H1 đang quan hệ tình dục với L, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại mỗi phòng 01 v bao cao su nhãn hiệu VIP và 01 bao cao su đã qua sử dụng; Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng do C trả tiền trước đó để mua dâm.

Tại bản Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 06-10-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội Chứa mại dâm, quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt.

- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm b, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”. Về hình phạt chính: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/7/2020. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 v bao cao su nhãn hiệu VIP và 02 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ do bị cáo H nộp cho Cơ quan điều tra. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 04/7/2020, tại quán “Cà phê thư giãn T thuộc thôn Q, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị H là chủ quán đã thu số tiền 500.000 đồng của Đỗ Văn C để Trần Thị T và Ngô Thị H1 là nhân viên của quán bán dâm cho C và Vương Đức L. Đến 20 giờ 35 ph t cùng ngày, trong l c T đang bán dâm cho C, H1 đang bán dâm cho L, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

[3] Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì mục đích lợi nhuận, bị cáo đã sử dụng địa điểm, cung cấp phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa, trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Chứa mại dâm, quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như tại Bản Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 06-10-2020 là có căn cứ, đ ng pháp luật.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân không tốt. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 v bao cao su nhãn hiệu VIP không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 500.000 đồng Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo, đây là khoản tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

[8] Đối với chị Trần Thị T và chị Ngô Thị H1 có hành vi bán dâm, Anh Đỗ Văn C và Vương Đức L có hành vi mua dâm, ngày 06/7/2020 Công an huyện Bình Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 32; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/7/2020.

3. Về xử lý vật chứng: Tch thu tiêu hủy 02 v bao cao su nhãn hiệu VIP và 02 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) do bị cáo H nộp cho Cơ quan điều tra.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 13/10/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2020/HS-ST ngày 24/11/2020 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:52/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Giang - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về