Bản án 52/2017/HSST ngày 04/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH 

BẢN ÁN 52/2017/HSST VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Văn Đ - sinh năm 1989 Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: Lớp 7/12. Dân tộc: Kinh.

Con ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1958. Có vợ: Chị Nguyễn thị T, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án: Không

Tiền sự: Quyết định số 6292/QĐ-XPHC ngày 17/8/2016 của Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn Đ về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác.

Nhân thân: Quyết định số 1377 ngày 03/4/2012 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đưa Nguyễn Văn Đ vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/4/2017 đến ngày 28/4/2017 chuyển tạm giam. (Có mặt)

Những người làm chứng:

- Ông Trần Xuân P - sinh năm 1947

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)

- Anh Vũ Duy M, sinh năm 1972

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ bị nghiện ma túy từ năm 2011, hiện nay đang điều trị thay thế bằng Methadone nhưng vẫn sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 25/4/2017 tại khu vực trạm thu phí cầu T, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện Vũ Thư phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần dài bên phải phía trước bị cáo đang mặc 02 gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục. Cơ quan Công an đã niêm phong hợp pháp vật chứng quản lý của bị cáo và trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 136/KLGĐ-PC54 ngày 25/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có trọng lượng 0,4945 gam (Không phẩy bốn nghìn bốn trăm bốn mươi lăm gam). Heroine STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ.

Về nguồn gốc số ma túy đó, bị cáo khai bị cáo mua hồi 09 giờ 45 phút cùng ngày 25/4/2017 của một người phụ nữ khoảng 60 tuổi không biết tên, địa chỉ đứng ở vệ đê khu vực quán C thuộc địa phận xã M, huyện M, tỉnh Nam Định, với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên đường mang về nhà thì bị lực lượng Công an bắt qủa tang.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ và quản lý của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng và 01 xe mô tô biển số đăng ký 17F7- 1810 bị cáo sử dụng để đi mua ma túy.

Bản cáo trạng số 48/KSĐT ngày 30 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự  2015: Xử phạt Nguyễn Văn Đ mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số hêrôin quản lý của bị cáo được hoàn lại sau giám định; Trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động đã quản lý; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo:

Cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp các tài liệu chứng cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 25/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 01 đến số 04).

- Biên bản niêm phong vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lập hồi 10 giờ 50 phút ngày 25/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 05).

- Bản Kết luận giám định số 136/KLGĐ-PC54 ngày 25/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 11).

- Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: Ông Trần Xuân P, sinh năm 1947, cư trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 59 đến số 62) và anh Vũ Duy M, sinh năm 1972, cư trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 63 đến số 66). Nội dung: Những người làm chứng khai hồi 10 giờ ngày 25/4/2017 đã chứng kiến lực lượng Công an quản lý tại túi quần dài bên phải, phía trước của Nguyễn Văn Đ đang mặc 02 gói nhỏ gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng và đã niêm phong có chữ ký của bị cáo và hai người làm chứng.

- Đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp vật chứng vụ án đã được quản lý.

Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 25/4/2017, tại trạm thu phí cầu T thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện V, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện Vũ Thư phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần dài bên phải, phía trước đang mặc 02 gói Hêrôin có trọng lượng 0,4945 gam (Không phẩy bốn nghìn bốn trăm bốn mươi lăm gam), mục đích để sử dụng cho bản thân.

Nguyễn Văn Đ có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi cất dấu ma túy để sử dụng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước ta, đi ngược lại cuộc đấu tranh quyết liệt của Nhà nước và nhân dân ta, nhằm đẩy lùi, loại trừ tội phạm ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Ma túy là một vấn nạn của toàn cầu, gây ra những hậu họa khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ, kinh tế của bản thân người nghiện, là tác nhân lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình trật tự trị an, kìm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội. Vì vậy ma túy đã gây ra những hoang mang lo ngại rất lớn trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã biết rõ tác hại của ma tuý; biết rõ pháp luật nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy, vì vậy đã phạm vào tội nghiêm trọng, cần phải xử lý nghiêm khắc.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo đã một lần bị đưa đi tập trung cai nghiện ma túy nhưng bị cáo không quyết tâm  cai nghiện, vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy dù đang được uống Methadone thay thế. Bị cáo còn có 1 tiền sự về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác. Vì vậy Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Tội tàng trữ tái phép chất ma túy” quy định mức hình phạt thấp hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần lên cho bị cáo một mức án ở đầu khung hình phạt và buộc bị cáo phải cải tạo cách ly xã hội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân lương thiện và tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, vì vậy không dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng: Ma túy là vật cấm lưu hành, vì vậy cần áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số hêrôin quản lý của bị cáo đã được hoàn lại sau giám định là 0,4621 gam. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia quản lý của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại bị cáo. Chiếc xe moto biển số đăng ký 17F7-1810 bị cáo chưa chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp, vì vậy Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau theo quy định.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1]Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[2]Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2017.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,4621 gam hêrôin quản lý của bị cáo được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 136/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đỏ đã qua sử dụng (có đặc điểm như biên bản quản lý)

[4] Về án phí: Áp dụng điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


136
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về