Bản án 51/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 51/2018/HS-ST NGÀY 10/04/2018 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 10 tháng 4 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2018/TLST- HS ngày 16/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐXXST-HS ngày 28/3/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1974 (tên gọi khác: V); Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn YT, xã TY, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công H (đã chết; con bà Trịnh Thị M, sinh năm 1924; chồng: Nguyễn Gia N (đã chết); con: 02 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1998); Danh chỉ bản số 62 lập ngày 07/12/2017 tại Công an huyện Chương Mỹ; tiền án,tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 05/12/2017 đến ngày 14/12/2017 chuyển tạm giam đến ngày 24/01/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị Ng và Nguyễn Thị D cùng hành nghề làm gái bán dâm cho khách. Ng bảo với D, khi nào có khách mua dâm thì Ng sẽ trực tiếp gặp khách trước để thỏa thuận giá cả, thống nhất thời gian, địa điểm và thu tiền trước của khách, sau đó Ng liên lạc bằng điện thoại gọi D đến nhà nghỉ để bán dâm cho khách. Mỗi lần bán dâm, Ng thu của khách số tiền  200.000đồng đến 150.000đồng/1 lần/ 1 khách mua dâm, khách phải trả tiền thuê phòng, sau khi bán dâm xong, Ng thanh toán trả D theo tỷ lệ chia đôi số tiền Ng thu được của khách.

Khoảng 19 giờ 30 ngày 05/12/2017, Nguyễn Bá K rủ Nguyễn Văn Th đi mua dâm. K gọi điện thoại cho Ng đặt vấn đề K, Th đang có nhu cầu mua dâm, K nhờ Ng gọi gái bán dâm để K, Th cùng mua dâm. Ng nói với K giá 200.000đồng/1 lần/1  khách,  hai  người  là  400.000đồng,  khách  phải  trả  tiền  thuê 2 phòng là 130.000đồng, tổng số tiền là 530.000đồng. K đồng ý và Ng hẹn K địa điểm mua bán dâm là Nhà nghỉ P ở xóm Đ, xã TĐ, huyện Chương Mỹ. Sau đó, Ng điện thoại thông báo cho D biết giá cả bán dâm như trên và hẹn D 20 giờ đến nhà nghỉ P để bán dâm. Khoảng 20 giờ cùng ngày, K, Th  đi đến nhà nghỉ P thuê phòng, K gọi điện báo cho Ng biết K đang ở phòng 304, Th ở phòng 203. Sau khi nhận điện thoại của K, Ng , D đến nhà nghỉ, Ng vào quầy lễ tân gặp chị Nguyễn Thị L là quản lý nhà nghỉ xin 01 bao cao su nhãn hiệu Romax và bảo D vào phòng 203 để bán dâm cho Th, Ng vào phòng 304 để bán dâm cho K. Tại phòng 304, K đưa cho Ng 530.000đồng, Ng đưa cho K 01 bao cao su, Ng và K đang chuẩn bị quan hệ tình dục thì bị Công an huyện Chương Mỹ kiểm tra hành chính bắt quả tang. Tại phòng 203, Công an huyện Chương Mỹ cũng phát hiện D và Th đang có hành vi chuẩn bị quan hệ tình dục.

Vật chứng thu giữ:

- Thu của Ng 530.000đồng, 01 điện thoại Xphone màu đen

- Thu tại phòng 304: 01 bao cao su nhãn hiệu Romax đã qua sử dụng.

Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 14/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyệnChương Mỹ truy tố Nguyễn Thị Ng tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Thị Ng khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi như nội D Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội Mội giới mại dâm; Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51,Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Ng từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Về hình phạt bổ sung xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm2015,khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su hiệu Romax đã qua sử dụng, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 530.000đồng thu giữ của Nguyễn Thị Ng là tiền thu lời bất chính. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tố tụng:

Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, tạm giam, về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người làm chứng, xác minh hiện trường vụ án, thu giữ vật chứng, trưng cầu định giá tài sản, về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can,  Quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình đối với bị can.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của  bị cáo Nguyễn Thị Ng tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ 30 ngày 05/12/2017, Nguyễn Thị Ng có hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để Nguyễn Thị Dthực hiện việc bán dâm cho Nguyễn Văn Th tại nhà nghỉ P tại xóm Đ, xã TĐ, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Môi giới mại dâm quy định tại khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên tội Môi giới mại dâm quy định tại điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 có hình phạt nhẹ hơn tội Môi giới mại dâm quy định tại điều 255 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội cần áp dụng khoản 1 điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Ng tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 điều 328 Bộ luật hình sự năm2015 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[2.2]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Ng khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ,hoàn cảnh kinh tế gia đình có nhiều khó khăn phải nuôi bố chồng già trên 80 tuổi các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2.3]. Xét loại, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Hành vi của  bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, sức khỏe con người và là nguyên nhân làm lây truyền các bệnh nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc tương xướng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ,bị cáo là gái mại dâm đã thỏa thuận cùng gái mại dâm khác là khi có nhiều khách thì giới thiệu cho nhau cùng bán dâm không có mục đích lợi nhuận trong việc môi giới mại dâm. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn ,chồng chết  bản thân là lao động chính nuôi bố chồng hơn 80 tuổi bởi vậy cần áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 cho bị cáo hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

[2.4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản  2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- 01 bao cao su hiệu Romax đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy

- 530.000đồng là tiền do phạm tội mà có thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước

[2.5]. Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016  quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội  “Môi giới mại dâm”.

2. Căn cứ khoản 1 điều 328; điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015,Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999

Xử  phạt Nguyễn Thị Ng: 12(Mười hai)  tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn)tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ng cho Ủy ban nhân dân xã TY, huyện ChươngMỹ, thành phố Hà Nội  giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách .

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015,khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su hiệu Romax đã qua sử dụng (Hiện ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày16/3/2018 giữa Công an huyện Chương Mỹ và Chi Cục thi hành án dân sự huyệnChương Mỹ).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 530.000đồng (Năm trăm ba mươi nghìn đồng)thu giữ của Nguyễn Thị Ng do thu lời bất chính mà có.

Số tiền 530.000đồng hiện ở tài khoản 3949.0.1052753.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ tại Kho bạc Nhà nước huyện Chương Mỹ theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 16/3/2018 của Công an huyện Chương Mỹ.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016  quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ng phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.


129
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về