Bản án 51/2018/HS-ST ngày 01/08/2018 về tội buôn bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 51/2018/HS-ST NGÀY 01/08/2018 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 01 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Việt A; sinh năm 1994; Tại: Lâm Đồng. Tên gọi khác: Không; Nguyên quán: Hà Nội. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Thợ làm đá . Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1978. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 09/02/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

Chị  Phạm Thị Bích P – SN: 2000 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 9, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. Anh  Lê Văn T – SN: 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 20 và 21/11/2017, Bị cáo Nguyễn Việt A liên hệ mua 30 bịch pháo bi và 10 hộp pháo hoa của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch với giá 10.000.000đồng tại khu vực Trung T thương mại BN thuộc xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước với mục đích vận chuyển đến tỉnh Lâm Đồng bán kiếm lời. Sau khi mua được pháo, bị cáo A thuê anh Lê Văn T, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã B điều khiển xe ô tô hiệu Fortune, BKS: 75A-047.47 chở số pháo trên ra đường ĐT 714 để đưa lên xe khách đi về tỉnh Lâm Đồng thì bị lực lượng Công an huyện Phú Riềng phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang .

Vật chứng thu giữ gồm:

-  30 bịch pháo bi hình cầu, đường kính 2,5cm có trọng lượng 13,5 kg;

-  10 hộp pháo hoa, mỗi hộp chứa 16 ống hình trụ có trọng lượng 10,9 kg;

-  01 ĐTDĐ hiệu Nokia 105;

-  01 thùng xốp màu trắng;

-  01 xe ô tô hiệu Fortune, BKS: 75A-047.47

Theo bản kết luận giám định số 3966/C54B ngày 22/11/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- 05 vật hình cầu vỏ bằng nhựa (dạng giống quả bóng) đường kính 2,5cm gửi đến giám định đều là pháo nổ;

- 01 khối hình lập phương, kích thước (11,5cmx 11,5cm x 14,5 cm) bên trong mỗi khối có 16 ống giấy hình trụ tròn dài 14,5cm, đường kính 03cm gửi đến giám định là pháo hoa (dạng pháo hoa nổ). Khi đốt bay cao lên, nổ và phát ra ánh sáng màu.

- Theo Công văn số 76/CV/C54B ngày 12/02/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời: Mẫu vật gửi đến giám định là 01 khối hình lập phương, kích thước (11,5cmx 11,5cm x 14,5 cm) bên trong mỗi khối có 16 ống giấy hình trụ tròn dài 14,5cm, đường kính 03cm là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, thành phần chính gồm Kaliclorat (KCLO3), Lưu huỳnh (S), Bột than (C); Khi đốt bay lên cao nổ và phát ra ánh sáng màu).

Tại bản Cáo trạng số: 34/Ctr – VKS ngày 16/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Việt A về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

Áp dụng khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm S khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt A  từ 06 tháng 09 tháng tù.

Đối với chị Phạm Thị Bích P là người đi cùng với bị cáo Nguyễn Việt A và Lê Văn T là người điều khiển xe ô tô chở pháo nổ, quá trình điều tra, xác định việc A giao dịch mua và vận chuyển pháo nổ thì P, T không biết vì số pháo trên được đựng trong thùng cacton dán kín nên cơ quan điều tra Công an huyện Phú Riềng không đề cập xử lý đối với P, T.

Đối với đối tượng bán pháo cho Nguyễn Việt A , quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của những đối tượng này, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng tách ra để tiếp tục xác minh xử lý sau.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng.Do đó,các hành vi,quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt A thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 34/Ctr – VKS ngày 16/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định số 3966/C54B ngày 22/11/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tài liệu chứng cứ khác được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21/11/2017, bị cáo Nguyễn Việt A có hành vi mua là 24,4kg pháo nổ và pháo hoa nổ tại xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước để vận chuyển về tỉnh Lâm Đồng nhằm mục đích bán lại cho người khác để hưởng lợi.

Theo công văn số 06/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 19/01/2017 về việc xử lý đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháp nổ như sau: “hành vi thực hiện kể từ ngày 01/01/2017 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 2015 có hiệu lực thì áp dụng quy định tại Điều 155 BLHS 1999 và Thông tư liên tịch 06/2008/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC để xử lý”.Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Việt A đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của Nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, là nguyên nhân gây ra những thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân và ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an. Bị cáo nhận thức được tác hại do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì lợi ích của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy hành vi của bị cáo cần được xét xử môt mưc hinh phat tương xứng để giao duc, cải tạo bi cao va cũng để phong ngưa chung trong xã hội.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, hành vi phạm tội được phát hiện ngăn chặn kịp thời nên gây hậu quả không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm S khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 155 BLHS1999 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 03 triệu đến 30 triệu. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo không có tài sản và công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 30 bịch pháo bi hình cầu, đường kính 2,5cm có trọng lượng 13,475 kg (trừ 05 quả đã sử dụng vào công tác giám định); 09 hộp pháo hoa, mỗi hộp chứa 16 ống hình trụ có trọng lượng 09,8 kg (trừ 01 hộp đã sử dụng vào công tác giám định); 01 thùng xốp màu trắng là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 105 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Việt A, xét thấy đây là phương tiện A sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với 01 xe ô tô hiệu Fortune, BKS: 75A-047.47: Cơ quan điều tra tách ra để xử lý sau nên HĐXX không xem xét xử lý.

Đối với Phạm Thị Bích P là người đi cùng với Nguyễn Việt A và Lê Văn T là người điều khiển xe ô tô chở pháo nổ, quá trình điều tra, xác định việc A giao dịch mua và vận chuyển pháo nổ thì P, T không biết, nên cơ quan điều tra Công an huyện Phú Riềng không đề cập xử lý đối với P, T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên Ph và đối tượng bán pháo cho Nguyễn Việt A, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của những đối tượng này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng tách ra để tiếp tục xác minh xử lý sau nên HĐXX không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng pháp luật và mức hình phạt đối với bị cáo có căn cứ nên được chấp nhận.

Án phí hình sự bị cáo phải chịu theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Việt A  phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm S khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 30; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 09/02/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: Các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 30 bịch pháo bi hình cầu, đường kính 2,5cm có trọng lượng 13,475 kg (trừ 05 quả đã sử dụng vào công tác giám định); 09 hộp pháo hoa, mỗi hộp chứa 16 ống hình trụ có trọng lượng 09,8 kg (trừ 01 hộp đã sử dụng vào công tác giám định); 01 thùng xốp màu trắng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 105.

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 20/12/2016 về án phí, lệ phí.

Bị cáo Nguyễn Việt A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


134
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về