Bản án 51/2018/HNGĐ-ST ngày 23/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ BỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 51/2018/HNGĐ-ST NGÀY 23/05/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 23 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp.Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 222/2018/HNST ngày 21 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2018/QĐST-HN ngày 07 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Bùi VT, sinh năm 1981; Địa chỉ: số N, đường M, phường B, thành phố V, tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Bà Lê TKD, sinh năm 1983; Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi mất tích: số N, đường M, phường B, thành phố V, tỉnh B (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 11 năm 2017 và quá trình tố tụng tại Tòa, ông Bùi VT trình bày:

Ông và bà Lê TKD tự nguyện tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Vũng Tàu ngày 23/01/2008. Thời gian đầu ông và bà KD chung sống khá hạnh phúc, đến tháng 4 năm 2012 vợ chồng có những bất đồng về quan điểm sống dẫn tới cãi vã, tình cảm vợ chồng phai nhạt, tháng 8/2012 bà KD đã mang con chung của ông và bà KD là Bùi Ngọc H sinh ngày 20/9/2008 đi khỏi nhà. Tháng 8/2012 ông T tìm được bà KD và con, vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, sau khi về chung sống thì cuộc sống giữa hai người không thực sự hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên tháng 01 năm 2013 bà KD tiếp tục mang con ra khỏi nhà. Từ đó đến nay ông đã tìm kiếm nhiều nơi, đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tin tức gì của bà KD và con.

Ngày 18/10/2016 ông có Đơn yêu cầu tuyên bố một người là mất tích đối với bà KD và con chung của ông và bà KD là cháu Bùi Ngọc Hiền. Ngày 14/8/2017 Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã chấp nhận yêu cầu của ông và ban hành Quyết định số 15/2017/QĐVDS-ST về việc Tuyên bố một người là mất tích.

Do xét thấy hôn nhân của ông và bà KD không có hạnh phúc, từ năm 2013 đến nay ông không biết bà KD ở đâu nên việc duy trì hôn nhân là không thể, nên ông yêu cầu Tòa giải quyết:

Về hôn nhân: Ông yêu cầu ly hôn với bà Lê TKD. 

Về con chung: Ông và bà KD có 01 con chung là Bùi Ngọc H sinh ngày 20/9/2008. Cháu H đã bị tuyên bố mất tích nên ông không yêu cầu Tòa giải quyết về nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Bùi VT yêu cầu ly hôn bà Lê TKD có địa chỉ cư trú cuối cùng tại Vũng Tàu do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng của đương sự: Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà KD vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối bà KD.

Trong vụ án này, Tòa án không T hành các biện pháp thu thập chứng cứ, đối tượng tranh chấp không thuộc quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi VT và bà Lê TKD chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống do vợ chồng có mâu thuẫn nên bà KD đã bỏ nhà đi không sống cùng ông T từ đầu năm 2013 đến nay đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về việc “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”, việc bà KD không chung sống cùng ông T đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà KD.

[2.2]. Về con chung: Ông T và bà KD 01 con chung là Bùi Ngọc H sinh ngày 20/9/2008. Cháu H đã bị tuyên bố mất tích nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc nuôi con.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016 ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc  hội ông Bùi VT phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39, Điều 227; Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi VT:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi VT ly hôn với bà Lê TKD.

2. Về con chung: Ông T và bà KD 01 con chung là Bùi Ngọc H sinh ngày 20/9/2008. Cháu H đã bị tuyên bố mất tích nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Ông Bùi VT phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001096 ngày 20 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Ông T đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Bùi VT được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Bà Lê TKD vắng mặt tại phiên tòa nên thời gian kháng cáo được tính 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2018/HNGĐ-ST ngày 23/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:51/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về