Bản án 51/2017/HSST ngày 14/08/2017 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 51/2017/HSST NGÀY 14/08/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Ngày 14 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2017/HSST ngày 07/7/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Giống T (Tên gọi khác: Giàng A T); Sinh năm: 1974 tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên; Trú tại: Bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không; Con ông Giàng Giống S (Đã chết) và bà Vừ Thị S (SN: 1950); Có vợ là Hờ Thị S (SN: 1978) và có 01 con sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 07/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Cộng đồng bản N, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên.

Đại diện hợp pháp: Ông Lỳ Hồng S - Trưởng bản – Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do

Trú tại: Bản N, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên. Người phiên dịch: Anh Thào A Vừ, SN 1982

Trú tại: Bản Nà Pán, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

NHẬN THẤY

Bị cáo Giàng Giống T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do thiếu đất làm nương nên  Giàng Giống  T đã chọn khu rừng thuộc khoảnh 8, tiểu khu 110, trạng thái rừng IIb, là rừng phòng hộ thuộc địa giới hành chính xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên để phát làm nương. Vào khoảng 07 giờ ngày 03/3/2017 T mang 01 con dao phát đi bộ một mình từ nhà đến khu rừng đã chọn. Đến nơi T dùng dao liên tục chặt hạ nhiều cây thân gỗ, thân cây tre đến 18 giờ thì nghỉ về nhà. Các ngày tiếp theo T tiếp tục thực hiện việc chặt phá. Đến khoảng 09 giờ ngày 07/3/2017 thì bị Tổ công tác liên ngành theo kế hoạch 420 của UBND tỉnh Điện Biên tại xã Chung Chải phát hiện, lập biên bản và thu giữ 01 con dao. Quá trình chặt phá, T đã dùng 01 con dao phát chặt phá diện tích rừng 6.187 m2. Mức độ thiệt hại do hành vi chặt phá rừng của Giàng Giống T gây ra là 90%.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/3/2017 đã xác định: Tổng diện tích rừng bị phá là 6.187 m2 trạng thái rừng IIb, là rừng phòng hộ có vị trí tại khoảnh 8, tiểu khu 110 thuộc diện tích rừng đã giao cho Cộng đồng bản Nậm Sin, xã Chung Chải quản lý, bảo vệ (Đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tổng sản lượng rừng mà Giàng Giống T hủy hoại là: 35,538 m3  khối gỗ, củi; trong đó: Sản lượng gỗ: 17,843 m3, Sản lượng củi: 17,694 m3 và 593 cây.

Tại kết luận định giá tài sản số 11 ngày 28/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mường Nhé, xác định tổng giá trị thiệt hạị do Giàng Giống T gây ra là 38.940.000đ (Ba mươi tám triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 37/QĐ-VKS-HS ngày 07 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố Giàng Giống T về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189, điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 dao phát là vật chứng của vụ án. Áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng, buộc bị cáo Giàng Giống T phải bồi thường thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 38.940.000 đồng. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền 38.940.000đồng.

Bị cáo Giàng Giống T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự.

XÉT THẤY

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 03/3/2017 đến ngày 07/3/2017, Giàng Giống T đã dùng 01 dao phát để chặt phá diện tích rừng 6.187 m2, là rừng phòng hộ thuộc khoảnh 8, tiểu khu 110 thuộc diện tích rừng đã giao cho Cộng đồng bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên quản lý, bảo vệ. Tổng giá trị thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng mà Tính gây ra là 38.940.000đ (Ba mươi tám triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng) là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi phá rừng trái phép nhằm mục đích làm nương của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn lấy đất để làm nương bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại lớn về môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé. Do vậy cần xử lý bị cáo có mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về rừng là 1.500.000đ cho Nhà nước để khắc phục một phần hậu quả. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189, điểm b, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41 ngày 20 tháng 6 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cần được chấp nhận bởi lẽ: Hành vi phạm tội của bị cáo theo khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm là nhẹ hơn khung hình phạt từ 7 đến 15 năm theo khoản 3 Điều 189 LHHS năm 1999. Do đó cần áp dụng những quy định có lợi cho bị cáo theo hướng dẫn của Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo còn nhiều khó khăn, là hộ nghèo, do đó Hội đồng xét xử  không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 điều 189 BLHS đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã gây thiệt hại về rừng do đó phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: 01 con dao phát đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là hộ nghèo, đồng thời là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Giàng Giống T phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi. Xử phạt bị cáo Giàng Giống T 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/3/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Điều 86 Luật bảo vệ và phát triển rừng: Buộc bị cáo Giàng Giống Tính phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về rừng cho Nhà nước với số tiền là 38.940.000đ. Được trừ đi số tiền 1.500.000đ đã nộp, còn phải bồi thường tiếp là 37.440.000đồng.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phát đã niêm phong là vật chứng vụ án Giàng Giống T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2017 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Giàng Giống T.

Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về