Bản án 503/2020/HSST ngày 11/11/2020 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 503/2020/HSST NGÀY 11/11/2020 VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 11 tháng 11 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 508/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 514/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn A, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/11/1989 tại B; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Qg, huyện C, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Lê Văn K, sinh năm 1963 và con bà Vi Thị H, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị D, sinh năm 1993; Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2020 cho đến nay). (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Cháu Đinh Thị Phương T, sinh ngày 30/01/2006 (Có đơn xin xét xử vắng mặt) Người đại diện hợp pháp cho cháu T: Bà Chu Thị Thu H1, sinh năm 1979, là mẹ đẻ cháu T (Có mặt) Đều trú tại: Tổ X, phường Q, thành phố TH, tỉnh TH

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Thiệu Thị Thanh H2, Luật sư, do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh TH cử, (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1993 – trú tại thôn N, xã Qg, huyện C, tỉnh B (Có mặt)

* Người làm chứng:

Ông Trần Đình H3, sinh năm 1965 - trú tại tổ X, phường Q, thành phố TH (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 11 giờ 30 phút ngày 14/5/2020, Lê Văn A điều khiển xe môtô BKS 97B1 – 691.38 đi trên đường dân sinh thuộc tổ X, phường Q, thành phố TH thì nhìn thấy cháu Đinh Thị Phương T (sinh ngày 30/01/2006 - trú tại tổ X, phường Q, thành phố TH) đi học về ở nhà một mình, Văn A nảy sinh ý định hiếp dâm cháu T. Lê Văn A quan sát thấy cháu T ra ngoài mua cơm về ăn, không khóa cổng, nên Văn Anh dựng xe mô tô ở gần đó rồi đi bộ vào trong nhà cháu T. Mặc dù không quen biết với ai trong gia đình cháu T nhưng Văn Anh giả vờ hỏi cháu T: “Bố mẹ cháu đâu, có nhà không, chú đến trả tiền”. Sau khi nghe cháu T nói Anh biết bố mẹ cháu T không có ở nhà, Văn A tiếp tục nói với cháu T chỉ chỗ nhà vệ sinh để đi vệ sinh nhờ, mục đích là dụ dỗ cháu T vào nhà vệ sinh để thực hiện hành vi hiếp dâm. Khi đi đến nhà vệ sinh, Văn A đứng ở cửa phòng, lại hỏi cháu T “Vòi nước chú không biết ấn thế nào, vào chỉ cho chú với”. Cháu T tin lời Văn A nên đi vào chỉ vị trí vòi nước. Sau đó, cháu T đi ra ngoài cửa nhà vệ sinh thì Văn A đứng phía sau, dùng hai tay ôm eo và lôi cháu T vào nhà vệ sinh. Văn A đẩy cháu T nằm ngửa ra sàn nhà và với tay đóng cửa nhà vệ sinh lại. Văn A dùng tay sờ vào ngực cháu T và nói “Cho chú làm cái”(ý muốn quan hệ tình dục với cháu T) thì cháu T gạt tay Văn A ra và nói “Không được”. Lúc này dương vật của Văn A đã cương cứng. Văn A tiếp tục dùng tay túm vào cạp quần của cháu T giật mạnh làm đứt cúc quần cháu T rồi dùng hai tay kéo mạnh chiếc quần ngoài của cháu T tụt xuống gần đầu gối. Văn A tiếp tục dùng tay cởi cúc áo sơ mi đồng phục của cháu T nhưng không cởi được, Văn A tiếp tục cúi xuống hôn lên má và dùng tay kéo quần lót của cháu T xuống đến đầu gối rồi sử dụng ngón trỏ và ngón giữa bàn tay phải sờ vuốt bên ngoài bộ phận sinh dục sau đó cho ngón tay giữa vào bên trong bộ phận sinh dục của cháu T. Trong khi Văn A thực hiện hành vi, cháu T liên tục khóc, hô hét, dùng chân đạp, hai tay cào cấu vào hai bên vai, cổ, lưng của Văn A, lấy chổi cọ nhà vệ sinh đánh vào đầu Văn A. Văn A thực hiện hành vi khoảng 5 phút thì thấy cháu T la hét to và liên tục chống cự, Văn A sợ bị người dân phát hiện nên dừng lại và nói “Thôi chú xin”. Sau đó, Văn A bỏ cháu T ra rồi mở cửa bỏ đi ra ngoài. Khi Văn A đi ra đến ngoài cổng thì phát hiện quên dép nên quay lại thì thấy cháu T đứng trong nhà, tay cầm 01 con dao giơ về phía Văn A hô hoán “Hiếp dâm, hiếp dâm”. Văn A đi dép và bỏ chạy ra đến vị trí dựng xe môtô thì bị ông Trần Đình H3 (sinh năm: 1965, trú tại tổ X, phường Q, thành phố TH) là hàng xóm của gia đình cháu T giữ lại và báo Cơ quan Công an.

Vật chứng của vụ án:

+ 01 chiếc cúc bằng nhựa màu đỏ, hình tròn, đường kính 1,5cm;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blande, mang BKS 97B1-691.38, số máy JA36B0541838, số khung 3647GY068997, xe đã qua sử dụng;

+ 01 áo sơ mi cộc tay màu trắng, trên ống tay áo có logo và chữ “Trường THCS Q”; 01 quần lót nữ màu hồng; 01 áo ngực nữ màu trắng;

+ 01 quần vải dài màu xanh đen, ký hiệu mẫu M;

+ Mẫu móng tay mười đầu ngón tay của Lê Văn A và 03 đầu tăm bông lau thu giữ vật chất bám dính hai bàn tay và mười đầu ngón tay của Lê Văn A, ký hiệu mẫu M1;

+ Mẫu móng tay mười đầu ngón tay của Đinh Thị Phương T, ký hiệu M2;

Tại bản cáo trạng số 510/CT-VKSTPTN ngày 16/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH đã truy tố Lê Văn A về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, theo điểm a khoản 1 Điều 142 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện cho bị hại trình bày: Về trách nhiệm dân sự hai bên thỏa thuận xong, về trách nhiệm hình sự đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Chị Hoàng Thị D trình bày: Hai bên thỏa thuận bồi thường 30.000.000đ, chị H1 là mẹ đẻ của cháu T đã nhận đủ tiền. Còn về chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Blade, mang BKS 97B1-691.38 là tài sản chung của vợ chồng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho tôi xin lại chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Văn A 7 năm 6 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình bị hại. Đại diện cho bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.

+ Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Trả bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, mang BKS 97B1-691.38, số máy JA36B0541838, số khung 3647GY068997.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cúc bằng nhựa màu đỏ, hình tròn, đường kính 1,5cm; 01 áo sơ mi cộc tay màu trắng, trên ống tay áo có logo và chữ “Trường THCS Q”; 01 quần lót nữ màu hồng; 01 áo ngực nữ màu trắng; 01 quần vải dài màu xanh đen, ký hiệu mẫu M; Mẫu móng tay mười đầu ngón tay của Lê Văn A và 03 đầu tăm bông lau thu giữ vật chất bám dính hai bàn tay và mười đầu ngón tay của Lê Văn A, ký hiệu mẫu M1; Mẫu móng tay mười đầu ngón tay của Đinh Thị Phương T, ký hiệu M2;

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” là không oan, đúng người, đúng tội.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Văn A là đúng người, đúng tội. Về trách nhiệm dân sự hai bên gia đình đã thỏa thuận bồi thường là 30.000.000đ, gia đình bị hại đã nhận đủ tiền nên tại phiên tòa không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 142 BLHS, phía đại diện cho bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xem xét.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại nhất trí với quan điểm của luật sư, không tranh luận gì thêm.

Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên thành phố TH trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Khoảng 11 giơ 30 phút ngày 14/5/2020, tại nhà riêng của cháu Đinh Thị Phương T thuộc tổ X, phường Q, thành phố TH, Lê Văn A đã có hành vi dùng vũ lực nhằm mục đích giao cấu trái với ý muốn của cháu T, do bị cháu T chống cự quyết liệt nên Văn A chưa thực hiện được hành vi giao cấu mà chỉ thực hiện được hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của cháu T. Tại thời điểm Văn A thực hiện hành vi phạm tội, cháu T được 14 tuổi 3 tháng 15 ngày. Phần dân sự, chị Chu Thị Thu H1 đã nhận số tiền bồi thường cho cháu T là 30.000.000 đồng và không có đề nghị gì khác.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố Lê Văn A về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 1 Điều 142 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục cải tạo đối với bị cáo và ngăn ngừa tội phạm nói chung [4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo đã tự nguyện tác động đến gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cần xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Chu Thị Thu H1 là người đại diện hợp pháp cho cháu T, bị hại không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự. Về số tiền gia đình chị Hoàng Thị D bồi thường cho bị hại, tại phiên tòa chị D không yêu cầu đối với bị cáo về khoản tiền trên. Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6]. Về vật chứng vụ án: Tại phiên tòa bị cáo xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, mang BKS 97B1-691.38 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Bị cáo sử dụng để đi làm. Vợ bị cáo có đơn xin lại chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại. Xét cần trả lại chiếc xe trên cho bị cáo.

[7]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 326 bộ luật tố tụng hình sự Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Lê Văn A 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2020.

Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS + Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc cúc bằng nhựa màu đỏ, hình tròn, đường kính 1,5cm; 01 áo sơ mi cộc tay màu trắng, trên ống tay áo có logo và chữ “Trường THCS Q”; 01 quần lót nữ màu hồng; 01 áo ngực nữ màu trắng đều đã qua sử dụng;

01 quần vải dài màu xanh đen, ký hiệu mẫu M; Mẫu móng tay mười đầu ngón tay của Lê Văn A và 03 đầu tăm bông lau thu giữ vật chất bám dính hai bàn tay và mười đầu ngón tay của Lê Văn A, ký hiệu mẫu M1; Mẫu móng tay mười đầu ngón tay của Đinh Thị Phương T, ký hiệu M2;

+ Trả bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, biển kiểm soát 97B1-691.38, số máy JA36E0541838, số khung RLHJA3647GY068997, dung tích xilanh 109, màu sơn đen đỏ, xe đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 37 ngày 23/10/2020 giữa Công an thành phố TH và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH, tỉnh TH).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.


103
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 503/2020/HSST ngày 11/11/2020 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Số hiệu:503/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về