Bản án 50/2019/HS-PT ngày 26/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 50/2019/HS-PT NGÀY 26/002/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Vào ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2018/TLPT-HS  Nguyễn Hồng Hoàng V về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V 48/2018/HS-ST ngày 27/09/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN HỒNG HOÀNG V, sinh ngày 20/9/1993 tại Đà Nẵng; nơi cư trú:xã H, huyện H1, thành phố Đà  Nẵng; số CMND: 201658435; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1972 và bà Phan Thị Ngàn P, sinh năm 1973; có vợ là Nguyễn Phương A, sinh năm  1996 và có 01 con sinh ngày19/5/2018; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị hại; 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/5/2018, Nguyễn Hồng Hoàng V điều khiển xe mô tô BKS 92M1 - 185.81 đi từ nhà ở xã H, huyện H1, thành phố Đà Nẵng đến chùa L, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau khi đi lễ chùa, V quay ra bãi giữxe thì phát hiện thấy xe mô tô hiệu AirBlade màu vàng, biển kiểm soát 43F1 - 170.75  của anh Kim Seong H2 để bên ngoài bãi giữ xe của chùa, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa và không có người trông coi. V nảy sinh ý định lấy trộm nên đến lấy chiếc xe mô tô này chạy đến bãi giữ xe của Bệnh viện P, quận N, thành phố Đà Nẵng và vào gửi xe tại đây. Sau đó, V thuê xe ôm chở quay lại chùa L, quận S để V lấy xe mô tô của mình và đi về nhà. Anh Kim Seong H2 sau khi đi tham quan chùa L trở ra lấy xe mô tô đi về thì phát hiện xe đã bị mất trộm nên đến Công an phường T trình báo sự việc.

Qua điều tra, ngày 18/5/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S đã triệu tập Nguyễn Hồng Hoàng V đến làm việc và V đã khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô 43F1 - 170.75 như đã nêu trên. Anh Kim Seong H2 đến Đà Nẵng du lịch và đã thuê xe mô tô 43F1 - 170.75 của chị Nguyễn Thị N.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S, thành phố Đà Nẵng xác định: Xe mô tô BKS 43F1 - 170.75 bị chiếm đoạt trị giá19.000.000đ (mười chín triệu  đồng).

Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô hiệu AirBlade, màu vàng đen, BKS 43F1 - 170.75.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 92M - 185.81 (xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Phương A, vợ của V).

Xử lý vật chứng:

Ngày 05/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade, màu vàng đen, BKS 43F1 - 170.75 cho chị Nguyễn Thị N; trả lại xe mô tô BKS 92M1 - 185.81 cho chị Nguyễn Phương An.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Nguyễn Hồng Hoàng V 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/10/2018 bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như hoàn cảnh gia đình đang gặp nhiều khó khăn do bị cáo là lao động chính, vợ bị bệnh tim, không có việc làm còn phải nuôi con nhỏ dại; Bản thân đã tỏ ra ăn năn hối hận, thành khẩn khai báo và xin hứa sẽ không làm gì sai trái vi phạm pháp luật; tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại. Từ đó bị cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện giúp đỡ gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án cho rằng: Về tố tụng, HĐXX tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; về nội dung, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người đúng tội. Xét hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra thì mức án mà cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là tương xứng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không cung cấp được chứng cứ hoặc tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt, do vậy đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/5/2018, Nguyễn Hồng Hoàng V đi lễ chùa L tại phường T, quận S, khi ra bãi giữ xe thì thấy xe AirBlade biển số 43F1 - 170.75 của anh Kim Seong H2 quên rút chìa khóa nên V lấy đến gửi tại Bệnh viện P, quận N, rồi thuê xe ôm quay lại chùa L lấy xe của mình về nhà. Sau khi đi tham quan chùa L anh Kim Seong H2 ra về thì phát hiện xe bị mất nên báo Công an, qua điều tra, ngày 18/5/2018, V đã khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô 43F1 - 170.75 như đã nêu trên, xe này do anh Kim Seong H2 thuê của chị Nguyễn Thị N. Xe bị mất đã được thu hồi và định giá là 19.000.000đ.

Với nội dung trên, ngày 27/9/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt V 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo thì thấy: Bị cáo trộm cắp xe máy có giá trị 19.000.000đ, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, hành vi chiếm đoạt từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ có mức hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có ba tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ; ăn năn hối cải; thành khẩn khai báo. Xét thấy bị cáo trộm cắp tài sản của người nước ngoài tại khu vực du lịch gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại nơi đông người, nên Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo bị 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” ở mức khởi điểm tù có thời hạn của khung hình phạt và không cho hưởng án treo là phù hợp.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo. Đối với ý kiến của bị cáo về việc đề nghị áp dụng tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” theo điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 là chưa đủ căn cứ. Do vậy, HĐXX thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, mặc dù có áp dụng thêm cho bị cáo một số tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 là: Tài sản đã được thu hồi, hoàn cảnh gia đình có khó khăn.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1/ Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 48/2018/HS-ST ngày 27/9/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Nguyễn Hồng Hoàng V 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Hoàng V phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/02/2019).


41
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 50/2019/HS-PT ngày 26/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:50/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:26/02/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về