Bản án 50/2018/HS-PT ngày 20/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 50/2018/HS-PT NGÀY 20/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20/3/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2018/HSPT ngày 02/02/2018 đối với các bị cáo Trần Nguyễn Thế D, Mai Hoàng H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2017/HSST ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo:

1. Trần Nguyễn Thế D, sinh năm 1999; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 50A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Thế H và bà Nguyễn Thị P; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/8/2017. Có mặt.

2. Mai Hoàng H, sinh năm 1998; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 94, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Tổ 15E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Mai Hoàng C và bà Nguyễn Thị Thu T; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/8/2017. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 ngày 18 tháng 8 năm 2017, Trần Nguyễn Thế D, Mai Hoàng T và Mai Hoàng H thuê nhà nghỉ N – Số 1439 đường N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng để sử dụng ma túy loại “Cỏ Mỹ”. Tại đây, Đ đã rủ Tài và H đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. Tài và H đồng ý. Đ phân công nhiệm vụ cho từng người như sau: H điều khiển xe mô tô chở Đ và T thấy chỗ nào sơ hở thì dừng xe lại và đứng ngoài cảnh giới, còn Đ và T thì vào trong xem có gì thì lấy trộm; Lấy được tài sản thì đem ra cửa hàng nào mua bán thì bán; Khi bị phát hiện, thì H điều khiển xe bỏ chạy, còn Đ và T ra được thì ra, nếu không được thì mỗi người chạy mỗi hướng. Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 19 tháng 8 năm 2017, H dùng xe môtô chở Đ và T đi dọc các tuyến đường xung quanh Bến xe trung tâm và vào trong các tuyến đường thuộc Khu đô thị P tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến đường L, thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Đ phát hiện có một lán của công trình xây dựng để cho công nhân ở nên nói H dừng xe lại. H dừng xe lại và đứng ngoài cảnh giới còn Đ và T đi vào trong lán tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Khi vào lán, Đ đã lấy được 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, còn T lấy được 02 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu trắng của anh Phan Văn K. Sau đó, Đ và T đưa 03 điện thoại lấy trộm được đưa ra cho H bỏ vào cốp xe cất giữ.

Sau đó, H tiếp tục chở Đ và T đi thêm một đoạn nữa cách vị trí lần thứ nhất khoảng 300m thì phát hiện có một lán công trình xây dựng khác. Lúc này, H chủ động dừng xe lại, Đ và T vào bên trong tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Tại đây, Đ đã lấy được 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh đen của anh Nguyễn Văn T, T lấy được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của anh Lê Văn T, rồi đưa ra cho H bỏ vào cốp xe. Sau đó, Đ, H và T đi về nhà nghỉ N.

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 19 tháng 8 năm 2017, Công an phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính phòng 304 Nhà nghỉ N – nơi Đ, T và H thuê, phát hiện 05 điện thoại di động nói trên. Tại cơ quan Công an, Đ, T và H đều thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 6.800.000đ.

Tại Bản án sơ thẩm số 113/2017/HSST ngày 26/12/2017 Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 69 và Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2016 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Nguyễn Thế D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/8/2017.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt: Mai Hoàng H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/8/2017.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Mai Hoàng T nhưng bị cáo này không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, tuyên về án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 28/12/2017 bị cáo Mai Hoàng H có đơn kháng cáo; Ngày 04/01/2018 bị cáo Trần Nguyễn Thế D có đơn kháng cáo với cùng nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về mặt hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về mặt chủ thể, nội dung và lập trong thời hạn luật định nên đảm bảo về mặt hình thức, cần được xem xét.

Về mặt nội dung: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, phạm tội thuộc trường hợp “có tổ chức”. Do đó cần phải bị xử lý nghiêm. Tòa án cấp đã đánh giá toàn diện vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng, xử phạt mức án như trên là phù hợp. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Các bị cáo Trần Nguyễn Thế D, Mai Hoàng H đều thừa nhận bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã xét xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 138 BLHS là đúng tội. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có nhân thân tốt, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Qua lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, đối chứng với các lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Rạng sáng ngày 19/8/2017, sau khi đã thuê nhà nghỉ sử dụng ma túy cùng nhau, Trần Nguyễn Thế D, Mai Hoàng H, Mai Hoàng T đã bàn bạc, phân công vai trò, lên kế hoạch cụ thể rồi cùng nhau đi trộm cắp tài sản. Theo đó, các bị cáo đã chở nhau đến đường L, thuộc phường H, quận L, thực hiện đúng kế hoạch đã bàn bạc, lẻn vào hai lán của công trình xây dựng trộm cắp tổng cộng 05 điện thoại di động tổng trị giá 6.800.000đ. Do đó, Bản án sơ thẩm số 113/2017/HSST ngày 26/12/2017 Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã xét xử các bị cáo Đ, H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự là đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn tuy nhiên trước khi thực hiện việc trộm cắp các bị cáo đã thuê nhà nghỉ ở chung với nhau để sử dụng ma túy và bàn bạc, tổ chức chặt chẽ với nhau về phương thức trộm cắp. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “có tổ chức”. Do đó cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo Đ là người chưa thành niên nhưng là người cầm đầu, tổ chức để các bị cáo khác phạm tội. Bị cáo H là người đã đủ 18 tuổi nhưng khi được rủ rê, bàn bạc việc trộm cắp bị cáo đã hưởng ứng và tham gia tích cực. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tích chất vụ án vai trò cũng như hành vi của từng bị cáo đồng thời đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng, xử phạt các bị cáo cùng mức án 24 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ y án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Nguyễn Thế D, Mai Hoàng H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 69 và Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2016 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Nguyễn Thế D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/8/2017.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt: Mai Hoàng H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/8/2017.

2. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trần Nguyễn Thế D, Mai Hoàng H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


124
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về