Bản án 50/2017/HSPT ngày 07/09/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 50/2017/HSPT NGÀY 07/09/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2017/HSPT ngày 08 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo Lâm Thị Mọng N. Do có kháng của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Bị cáo có kháng cáo: Lâm Thị Mọng N, sinh năm 1973 tại Bạc Liêu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 03, Lô 08 đường L, Khóm V, Phường X, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Hoa; cha là ông Lâm Đắc T, sinh năm 1941 và mẹ là Nguyễn Thị Y, sinh năm 1943; có chồng tên Lâm Văn Thanh S, sinh năm 1973 và có 01 người con sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/8/2016 đến ngày 01/9/2016 cho tại ngoại đến nay, (có mặt).

NHẬN THẤY

Theo Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp nhằm có tiền chi xài nên khoảng giữa tháng 8/2016, bị cáo Lâm Thị Mọng N thường đến quán cà phê Vy Băng (do Phạm Thị Kim C làm chủ) ở Khóm 2, Phường 7, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu để ghi số đề thắng thua bằng tiền với người khác. Bị cáo dựa theo kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền Nam gồm: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang, Trà Vinh, Hậu Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng), mở thưởng các ngày trong tuần và kết quả xổ số kiến thiết của đài miền Bắc mở thưởng hàng ngày để tính thắng thua với người đặt số. Hình thức ghi số đề: Người chơi trực tiếp đến gặp và đọc những con số đặt, số tiền đặt cho N ghi vào tờ phơi hoặc điện thoại, nhắn tin vào số thuê bao 0946.793454 và 0908.677648 của bị cáo để đặt số đề. Bị cáo ghi số đề gồm số đầu, số đuôi, số lô 02 số, số lô 03 số, số đá và tự ăn thua với người đặt đề. Cách thức tính thắng thua đối với số đầu, số đuôi, số lô 02 con với tỷ lệ thắng 1 trúng 80 lần; số lô 03 con và số đá với tỷ lệ thắng 1 trúng 650 lần, khi ghi tiền là giảm ba chữ số 0 cuối hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị.

Khi bắt quả tang, Công an thu giữ của bị cáo 01 cuốn tập học sinh bên trong có 02 trang giấy ghi hệ thống các con số được đánh số thứ tự 04, 05 và 04 tờ giấy tập học sinh có ghi hệ thống các con số, được đánh số thứ tự từ 06 đến 09. Trong đó, 03 tờ giấy đánh số thứ tự 06, 07 và 09 là giấy bị cáo ghi tiền hụi; 02 trang giấy đánh số thứ tự 04 và 05 là phơi số đề do bị cáo ghi dựa theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền Bắc mở thưởng ngày 22/8/2016 với số tiền đặt là 4.253.000 đồng; tờ giấy đánh số thứ tự 08 là phơi số đề của bị cáo ghi dựa theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền Bắc mở thưởng ngày 21/8/2016 với số tiền đặt là 5.585.000 đồng và tiền trúng là 7.580.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lâm Thị Mọng N phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH 13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH 13. Xử phạt bị cáo Lâm Thị Mọng N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án, được đối trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/8/2016 đến ngày 01/9/2016.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 12/7/2017, bị cáo kháng cáo yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Hành vi ghi số đề thắng thu bằng tiền của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” như cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với cấp sơ thẩm nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm án và hưởng án treo của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội đánh bạc là không bị oan vì bị cáo có hành vi ghi số đề nhằm thắng thua bằng tiền khoảng một tuần thì bị bắt quả tang vào ngày 22/8/2016. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu có lưu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ 10 phút, ngày 22/8/2016, tại quán cà phê Vy Băng thuộc Khóm V, Phường X, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu bị cáo Lâm Thị Mọng N bị bắt quả tang về hành vi ghi số đề thắng thua bằng tiền. Quá trình điều tra xác định vào ngày 22/8/2016, bị cáo nhận ghi số đề dựa theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền Bắc mở thưởng ngày 21/8/2016 với số tiền đặt là 5.585.000 đồng và tiền trúng là 7.580.000 đồng được thể hiện tại tờ giấy đánh số thứ tự 08, tổng số tiền bị cáo chịu trách nhiệm hình sự là 13.165.000 đồng nên án sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm án và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong thời gian gần đây, việc xét xử các vụ án đánh bạc nói chung và chơi lô đề nhằm thắng thua bằng tiền nói riêng ngày càng nhiều, tệ nạn này không giảm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương nên cần xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội như cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp. Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Lý do bị cáo kháng cáo xin giảm án và xin hưởng án treo là phải nuôi mẹ ruột già yếu, em ruột bị bệnh, Hội đồng xét xử có xem xét thấy rằng, gia đình bị cáo đang gặp khó khăn như bị cáo trình bày nhưng đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Như đã phân tích, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu 200.000 đông án phí phúc thẩm hình sự.

Các phần Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1/. Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm án và được hưởng án treo của bị cáo Lâm Thị Mọng N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.

2/. Tuyên bố bị cáo Lâm Thị Mọng N phạm tội “Đánh bạc”.

3/. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13. Xử phạt bị cáo Lâm Thị Mọng N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án, được đối trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/8/2016 đến ngày 01/9/2016.

4/. Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, về án phí hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


128
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về