Bản án 494/2020/HS-PT ngày 09/10/2020 về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 494/2020/HS-PT NGÀY 09/10/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC VÀ TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Ngày 09 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 286/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Trương Quang T và các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Trương Quang T, sinh năm 1969 tại huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Tân Tiến, xã Tam Đ, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thế H và bà Đỗ Thị H1; có vợ: Đỗ Thị Hồng H2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 05 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội Đánh bạc, đã chấp hành xong phạt tiền và án phí hình sự sơ thẩm (Bản án số 16/2017/HSST) ngày 24/7/2017.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

2. Hà Văn Q, sinh năm 1986 tại huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Thọ Đ, xã Hào Ph, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Q1 và bà Trần Thị H3; có vợ: Hoàng Thị L (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Ngày 15/3/2018, bị Công an huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh nhau, phạt tiền 750.000 đồng (biên bản xác minh ngày 20/6/2018, đến nay chưa chấp hành).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Vắng mặt.

3. Nguyễn Văn C, sinh năm 1956 tại huyện Phù N, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Xóm Hùng L1, xã Nhữ Kh, huyện Yên S, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H4 và bà Cao Thị T; có vợ: Nguyễn Thị Ch và 05 con; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 04/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc (Bản án số 16/2017/HSST), đã chấp hành xong tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/7/2017. Ngày 05/12/2017, đã chấp hành xong án phạt tù.

Nhân thân:

+ Ngày 14/12/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuỵên Quang xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc (Bản án số 42/2000/HSST).

+ Ngày 23/4/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12 tháng tù về tội Đánh bạc (Bản án số 37/2008/HSST).

+ Ngày 10/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội đánh bạc (Bản án số 41/2008/HSST).

+ Ngày 27/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (Bản án số 10/2014/HSST).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

4. Trần Văn L2, sinh năm 1976; tại huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Quý Nh, xã Đồng Q2, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 2/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Hưng Đ1 và bà Dương Thị L3; có vợ: Hoàng Thị Th và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Ngày 18/02/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản bị chiếm đoạt 6.500.000đ, Bản án số 46/2002/HSST).

+ Ngày 20/02/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản bị chiếm đoạt 1.982.500đ, Bản án số 07/2009/HSST).

+ Ngày 01/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc (Bản án số 66/2014/HSST), đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 18/8/2014, tiền phạt ngày 22/9/2017.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi noi cư; Có mặt.

5. Hoàng Văn V, sinh năm 1977 tại huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Quý Nh, xã Đồng Q, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 2/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Mạnh H5 (đã chết) và bà Phan Thị Th1, sinh năm 1947; có vợ: Hà Thị Th2, sinh năm 1977 và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Son Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 62/2016/HSST), ngày 27/01/2019, ra trại về địa phương.

Nhân thân: Ngày 01/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 03 tháng 10 ngày tù về tội Đánh bạc (Bản án số 66/2014/HSST, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 2.710.000 đồng).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú; Vắng mặt.

6. Nguyễn Thị A, sinh năm 1960 tại huyện Đoan H5, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu Hưng T, thị trấn Đoan H5, huyện Đoan H5, tỉnh Phú Thọ;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình Kh và bà Hoàng Thị N; có chồng: Dương Hồng Th3 và 02 con; tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Ngày 23/4/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 6 tháng tù về tội Đánh bạc (Bản án số 37/2008/HSST).

+ Ngày 10/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội Đánh bạc (Tổng hợp 2 bản án là 18 tháng tù - Bản án số 41/2008/HSST).

+ Ngày 03/05/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 5 tháng tù cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 01 năm (Bản án số 29/2017/HSST), đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm 26/6/2017, tiền phạt ngày 24/10/2017.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

7. Bùi Văn V1, sinh năm 1993 tại huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Lộ V2, xã Tam Đ, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; đoàn thể, đảng: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn L4 và Lê Thị Th4; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 04/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (Bản án số 20/2018/HS-ST), chưa được xóa án tích Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Vắng mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn 11 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng giữa tháng 9/2019 đến ngày 22/9/2019, Trương Quang T cư trú tại thôn Tân T, xã Tam Đ, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang đã nhiều lần tổ chức đánh bạc tại nhà ở của mình. Các lần tổ chức đánh bạc T đứng ra thu tiền của những người tham gia đánh bạc và T thuê, phân công Hà Văn Q cư trú tại thôn Thọ Đ, xã Hào Ph, huyện Sơn D (Q nhận T là bố nuôi, ở tại nhà T) canh gác, khóa, mở cổng cho những người đến tham gia đánh bạc, mỗi lần T trả tiền công cho Q từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Vào ngày 22/9/2019, T đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh liêng và đánh xóc đĩa ăn tiền, cụ thể:

Khoảng 11 giờ ngày 22/9/2019, Hà Đình T1 cư trú tại thôn Hưng Định, xã Sầm Dương, huyện Sơn Dương đi ăn cưới tại xã Lâm Xuyên, huyện Sơn Dương về đến quán “Tam Thứ” ở thôn Tân T, xã Tam Đa thì gặp T đang uống nước ở quán, một lúc sau có Lục Văn Q3 cư trú tại thôn Phú Xuân, xã Tam Đa đến, T1 và Q3 rủ T về nhà T đánh liêng ăn tiền, T đồng ý. Do chưa có người trông coi quán Intenet (quán của T) nên T bảo T1 và Q3 về nhà mình trước, T1 đi về nhà T, còn Q3 đi về nhà Q3.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, T1 gọi điện cho Q3 và Nguyễn Hùng C1 cư trú tại thôn Vi Lăng, xã Tam Đa đến nhà T để đánh liêng ăn tiền, Q3 và C1 đồng ý. Cùng thời gian này, Nguyễn Văn C cư trú tại thôn Hùng L1, xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn (bạn T) đến nhà Nguyễn Thị A cư trú tại khu Hưng T, thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ rủ A sang nhà T đánh bạc. C thuê xe taxi của Trần Văn Đ cư trú tại thôn Ngọc Chúc 3, xã Chí Đám, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ chở C và A đến nhà T. Trên đường đi C gọi điện cho T và bảo T gọi thêm người đến đánh bạc, T đồng ý.

Trước khi đánh bạc, T đi từ quán Intenet về nhà thì gặp Nguyễn Hùng C1 ở sân, C1 gọi điện rủ Lê Văn Đ1 cư trú tại thôn Lộ V2, xã Tam Đa đến nhà T đánh bạc, Đ1 đồng ý và rủ Bùi Văn V1 (ở cùng thôn - đã bị kết án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích) đến nhà T để đánh bạc. Bùi Văn V1 cùng T1, Q3, Cương và Đ1 ngồi đánh bạc tại gian khách nhà T. Hình thức đánh liêng bằng quân bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà T, quy định mức “Tẩy” cá cược từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng/người/ván. Quá trình ngồi xem mọi người đánh liêng T gọi điện rủ Trần Văn L2 cư trú tại thôn Quý Nhân, xã Đồng Quý và Nguyễn Trung K cư trú tại thôn Hồi Xuân, xã Tam Đa, huyện Sơn Dương đến nhà T để đánh xóc đĩa ăn tiền, L2 và K đồng ý.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị A, Trần Văn Đ đến nhà T, sau đó Trần Văn L2, Đặng Tiến Đ2 cư trú tại thôn Sài Lĩnh, xã Quyết Thắng; Đinh Công Th5 cư trú tại thôn Tân Sơn, xã Vân Sơn; Lê Anh Kh1 cư trú tại thôn Xóm Hồ, xã Hồng Lạc, huyện Sơn Dương lần lượt đến nhà T để đánh bạc. Thấy có nhiều người đến, T bảo những người đánh liêng nghỉ để chuyển sang đánh xóc đĩa. V1, T1, Q3, C1 và Đ1 không chơi đánh liêng nữa. Tổng số tiền Bùi Văn V1, T1, Q3, C1 và Đ1 sử dụng để đánh liêng ăn tiền là 3.470.000 đồng (Ba triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Trong đó: Bùi Văn V1 sử dụng 170.000 đồng để đánh bạc (thua 50.000 đồng, còn 120.000 đồng); Hà Đình T1 sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc (không thắng, thua); Lục Văn Q3 sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc (thua 30.000 đồng, còn lại 70.000 đồng); Nguyễn Hùng C1 sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc (không thắng, thua); Lê Văn Đ1 sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc (thắng 80.000 đồng). Sau đó Đ1 và V1 đi về, còn T1, Q3, Nguyễn Hùng C1 ở lại nhà T để tham gia đánh xóc đĩa.

T bảo Hà Văn Q ra ngoài cổng canh gác, Q đi ra ngoài khóa cổng thì gặp Đàm Văn V2, Hoàng Văn V, Hoàng Văn C1 đều cư trú tại thôn Quý Nhân, xã Đồng Quý và Hoàng Văn L5 cứ trú tại thôn Bá Xanh, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dương đến nhà T để đánh bạc. T chuẩn bị dụng cụ để đánh bạc gồm: 04 quân bạc bằng đóm tre được bôi đen một mặt (kích thước 1,8cm X 0,lcm); 01 bộ bát đĩa sứ, rồi cùng mọi người vào phòng ngủ của Trương Ngọc Dương (con T) để đánh bạc. Những người tham gia đánh xóc đĩa ăn tiền gồm: Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Lục Văn Q3,

Nguyễn Hùng C1, Hoàng Văn C1, Hoàng Văn V, Đàm Văn V2, Hoàng Văn L5, Trần Văn Đ, Trương Ngọc D1, Đặng Tiến Đ2, Nguyễn Thị A, Hà Đình T1, Đinh Công Th5. Còn Lê Anh Kh1 ngồi xem, không tham gia đánh bạc.

Trần Văn L2 là người xóc cái, hình thức đánh xóc đĩa đoán chẵn lẻ, mỗi ván từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng/người/lần; Riêng C lấy 04 quân bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà T gồm 01 quân 3 cơ, 01 quân 3 bích, 01 quân 4 cơ, 01 quân 4 bích đặt trước chỗ ngồi của C để làm bảng vị nhưng không có ai đánh. Đánh được khoảng 05 phút thì T nói “Có chẵn có lẻ rồi” (theo quy ước những người tham gia đánh bạc phải nộp tiền), Nguyễn Văn C nói “Mỗi người nộp cho chủ nhà 200.000 đồng”, thì L2, Q3, Hoàng Văn C1, V, V2, L5, Th5 và Đ2 mỗi người đặt xuống chiếu bạc 200.000 đồng, T cầm 1.600.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Trong lúc mọi người đang đánh bạc thì có Nguyễn Trung K cư trú tại thôn Hồi Xuân, xã Tam Đa đến nhà T để đánh bạc, Q mở cổng rồi đưa K vào nhà gọi T mở cửa, do đang đánh bạc nên T bảo D1 (con T) ra mở cửa để cho K vào đánh bạc, T thu của K 200.000 đồng và sử dụng để đánh bạc.

Hồi 13 giờ 45 phút cùng ngày, Tổ công tác của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Tuyên Quang tiến hành kiểm tra, xác minh tố giác về tội phạm tại nhà Trương Quang T, trước khi tiến hành kiểm tra, các đối tượng đã tẩu tán, cất giấu công cụ sử dụng vào việc đánh bạc. Qua kiểm tra, xác minh Tổ công tác đã phát hiện 1.500.000 đồng tại gầm giường ở phòng khách nhà T; 11 mảnh đóm tre, một mặt được bôi đen (các mảnh có kích thước 01,8cm X 0,7cm, 01,8cm X 0,7cm, 01,8cm X 0,7cm,

01,8cm X 0,5cm, 01,8cm X 0,6cm, 01,8cm X 0,4cm, 01,8cm X 0,3cm, 01,8cm X 0,4cm, 01,8cm X 0,3cm, 01,8cm X 0,1 cm, 01,8cm X 0,1 cm) ghép lại thành 04 (bốn) quân bạc để trong lọ lục bình bằng gốm đặt gần bàn thờ phòng khách; 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 02 thanh gỗ, 01 que đóm tre, 01 bút dạ màu đen, 01 con dao cả chuôi dài 43cm và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ bị xé rách thành 08 (tám) mảnh (02 mảnh ghép lại thành quân 3 cơ; 02 mảnh ghép lại thành quân 3 bích, 02 mảnh ghép lại thành quân 4 cơ, 02 mảnh ghép lại thành quân 4 bích) tại buồng ngủ của vợ chồng T; 01 chiếu cói tại buồng ngủ của D1 (con T). Tổ công tác đã lập biên bản và tạm giữ toàn bộ đồ vật nêu trên. Sau đó yêu cầu nhũng người có mặt tại nhà T về trụ sở Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang để điều tra, xác minh làm rõ.

Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 35.510.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm mười nghìn đồng). Trong đó: Nguyễn Văn C sử dụng 7.540.000 đồng để đánh bạc (thắng 300.000 đồng); Trần Văn L2 sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc (thắng 1.000.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Nguyễn Trung K sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc (thua 100.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Lục Văn Q3 sử dụng 4.970.000 đồng để đánh bạc (thua 1.140.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Nguyễn Hùng C1 sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc (thua 600.000 đồng); Hoàng Văn C1 sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc (thắng 200.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Trương Quang T sử dụng 1.800.000 đồng để đánh bạc (tiền thu của các đối tượng đánh bạc - thua 1.600.000 đồng); Hoàng Văn V sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc (thắng 1.070.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Đàm Văn V2 sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc (thắng 3.170.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Hoàng Văn L5 sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc (thua 100.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Trương Ngọc D1 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc (thua hết); Trần Văn Đ sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc (là số tiền C trả tiền taxi - thua hết); Đặng Tiến Đ2 sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc (thua 200.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng); Nguyễn Thị A sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc (thua hết); Hà Đình T1 sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc (thua hết); Đinh Công Th5 sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc (thắng 1.500.000 đồng, đưa cho T 200.000 đồng).

Quá trình điều tra không xác định được ai là người xé quân bài tú lơ khơ, bóp nát quân bạc bằng tre, cất bát đĩa và vứt bỏ số tiền 1.500.000 đồng ở gầm giường gian khách nhà T.

Các đối tượng khai nhận tổng số tiền ban đầu đã bỏ ra để đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền là 35.510.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm mười nghìn đồng). Tuy nhiên, tống số tiền thực tế chứng minh được các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa là 35.910.000 (Ba mươi lăm triệu chín trăm mười nghìn đồng), phù hợp với số tiền mà các đối tượng giao nộp cho Cơ quan điều tra. Số tiền chênh lệch 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) các bị cáo chịu trách nhiệm chung.

Như vậy xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc (xóc đĩa ăn tiền) là 37.410.000 đồng (Ba mươi bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng), gồm 35.910.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc và 1.500.000 đồng thu giữ tại nhà T.

Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ:

+ Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng số 82.130.000 đồng: Thu giữ tại nhà T 1.500.000 đồng và 80.630.000 đồng do các bị cáo tự nguyện giao nộp, trong đó: Nguyễn Văn C 7.840.000 đồng, Trần Văn L2 18.800.000 đồng, Nguyễn Trung K 4.700.000 đồng, Lục Văn Q3 3.830.000 đồng, Nguyễn Hùng C1 2.000.000 đồng, Hoàng Văn C1 2.500.000 đồng; Trương Quang T 200.000 đồng; Hoàng Văn V 2.470.000 đồng, Đàm Văn V2 4.770.000 đồng, Hoàng Văn L5 300.000 đồng; Trương Ngọc D1 220.000 đồng; Trần Văn Đ 29.000.000 đồng và Đinh Công Th5 4.000.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và mang theo người nhưng không sử dụng vào đánh bạc.

(toàn bộ số tiền trên đã được nộp vào tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang).

+ 01 bát sứ màu trắng, lòng bát có vết mực màu đỏ, đít bát có in số 13.

+ 01 đĩa sứ màu trắng, viền trong đĩa có vết mực màu đen.

+ 01 chiếu cói, kích thước 185cm X 155cm, màu vàng, mặt chiếu có nhiều chữ và hoa văn màu đỏ.

+ 11 mảnh đóm tre, một mặt được bôi đen, ghép lại thành 04 (bốn) quân bạc (các mảnh có kích thước 01,8cm X 0,7cm; 01,8cm X 0,7cm; 01,8cm X 0,7cm;

01,8cm X 0,5cm; 01,8cm X 0,6cm; 01,8cm X 0,4cm; 01,8cm X 0,3cm; 01,8cm X 0,4cm; 01,8cm X 0,3cm; 01,8cm X 0,1 cm; 01,8cm X 0,1 cm).

+ 01 đoạn gỗ hình hộp chữ nhật kích thước 40cm X 3,3cm X 2,5cm.

+ 01 đoạn gỗ hình hộp chữ nhật kích thước 17,3cm X 3,4cm X 2cm.

+ 01 đoạn đóm tre kích thước 19,5cm X 1cm.

+ 01 bút lông dầu màu đen, đã qua sử dụng.

+ 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ bị xé 08 (tám) mảnh cụ thể: 02 mảnh ghép lại thành quân 4 bích; 02 mảnh ghép lại thành quân 4 cơ; 02 mảnh ghép lại thành quân 3 bích; 02 mảnh ghép lại thành quân 3 cơ;

+ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng.

+ 01 con dao (loại dao phay) dài 43 cm.

Tại Bản án sơ thẩm số 02/2020/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang T phạm 02 tội: “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, bị cáo Hà Văn Q phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”.

Các bị cáo: Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A, Bùi Văn V1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Căn cứ: Điểm a, c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Trương Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tô chức đánh bạc; 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trương Quang T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Hà Văn Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

4. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn L2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

5. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

6. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

7. Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Trung K, Lục Văn Q3, Nguyễn Hùng C1, Hoàng Văn C1, Đàm Văn V1, Đặng Tiến Đ2, Hoàng Văn L5, Đinh Công Th5, Trần Văn Đ, Trương Ngọc D1, Hà Đình Tr; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/3/2020, bị cáo Trương Quang T, Hà Văn Q, Bùi Văn V1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 04/3/2020, bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 09/3/2020, bị cáo Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Các bị cáo kháng cáo gồm Trương Quang T, Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Nguyễn Thị A có mặt tại phiên tòa. Các bị cáo Hà Văn Q, Hoàng Văn V và Bùi Văn V1 vắng mặt, xét thấy Tòa án đã triệu tập các bị cáo hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ba bị cáo trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản nhận dạng, tang vật thu giữ, lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng; căn cứ vào Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản nhận dạng, tang vật thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 22/9/2019, tại nhà Trương Quang T đã có hành vi rủ rê, chuẩn bị công cụ, phương tiện, thu tiền và phân công Hà Văn Q canh gác, cảnh giới để tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh liêng và đánh xóc đĩa ăn tiền. Bị cáo Trương Quang T đã có hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Bị cáo Hà Văn Q đồng phạm với Trương Quang T về hành vi tổ chức đánh bạc với vai trò giúp sức. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa; bị cáo Bùi Văn V1 đánh bạc dưới hình thức đánh liêng nhằm thu lời bất chính. Tổng số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc là 37.410.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Trương Quang T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322 và tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Văn Q về tội Tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A và Bùi Văn V1 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Trương Quang T đã dùng địa điểm là nhà ở của mình, rủ rê, chuẩn bị các công cụ để cho các đối tượng đánh bạc tại nhà và tham gia đánh bạc; bị cáo Hà Văn Q đã đồng phạm với Trương Quang T về hành vi tổ chức đánh bạc, có vai trò giúp sức cho bị cáo T. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Luật, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A đã đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền; bị cáo Bùi Văn V1 đã đánh bạc bằng hình thức đánh liêng nhằm thu lời bất chính. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xem xét nhân thân của các bị cáo, do vậy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị A xuất trình thêm biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm, đơn xin giảm án có xác nhận của chính quyền địa phương và tài liệu chứng minh gia đình có công với cách mạng. Nhưng xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp.

Bị cáo Trương Quang T tại phiên tòa cũng xuất trình tài liệu chứng minh gia đình có công với cách mạng nhưng bị cáo có nhận thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và xử phạt bị cáo mức án 02 năm 03 tháng tù cho hai tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” là phù hợp.

Đối với các bị cáo kháng cáo khác đều có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về hành vi đánh bạc cùng các hành vi vi phạm pháp luật khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng mức án phù hợp đối với từng bị cáo.

Các bị cáo kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không xuất trình được các tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác, và như phân tích trên thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án như vậy là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị A đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Các quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cần được giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

[1] Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trương Quang T, Hà Văn Q, Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A, Bùi Văn V1; giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST ngày 25/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

Tuyên bố:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang T phạm 02 tội: “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, bị cáo Hà Văn Q phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”.

Các bị cáo: Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A, Bùi Văn V1 phạm tội “Đánh bạc”.

[1.1] Căn cứ: Điểm a, c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Trương Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trương Quang T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

[1.2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Hà Văn Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

[1.3] Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

[1.4] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn L2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

[1.5] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

[1.6] Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

[1.7] Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

[2] Về án phí: Các bị cáo Trương Quang T, Hà Văn Q, Nguyễn Văn C, Trần Văn L2, Hoàng Văn V, Nguyễn Thị A và Bùi Văn V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị A đã nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai số 0002179 ngày 10/3/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 494/2020/HS-PT ngày 09/10/2020 về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

Số hiệu:494/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/10/2020
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về