Bản án 494/2017/HSPT ngày 13/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 494/2017/HSPT NGÀY 13/07/2017 VỀ HÀNH VI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 498 /2017/HSPT, ngày 26/6/2017 đối với bị cáo Lại Bá Khánh M do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội đối với bản án hành sự sơ thẩm số 54/2017/HSST, ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Th, Hà Nội

Bị cáo bị kháng nghị:

Lại Bá Khánh M, sinh năm 1996; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú xóm 2, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp không; trình độ văn hoá 9/12; con ông Lại Bá G và bà Lại Thị Y; tiền án, tiền sự không; tạm giữ từ ngày 12/8/2015 đến ngày 21/8/2015, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện bị cáo tại ngoại – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Th thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ ngày 11/8/2015, tại thị trấn V, huyện Th, Hà Nội, Công an huyện Th phát hiện thu giữ của Lại Bá Khánh M 01 gói nhỏ chứa các hạt tinh thể màu trắng, kết quả giám định có thành phần Methamphetamine, có trọng lượng tinh thể là 1,222 gam, hàm lượng là 69,65%. Theo lời khai của M đây là số ma túy mua của một người không quen biết tại khu vực thành phố T, tỉnh Thái Bình vào ngày 7/8/2015 với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Th, Hà Nội đã xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lại Bá Khánh M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự: Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lại Bá Khánh M.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/5/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội có kháng nghị số 01/KN-VKS đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung kháng nghị và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15giờngày 11/8/2015, Lại Bá Khánh M có hành vi tàng trữ 1,222 gam Methamphetamine, hàm lượng là 69,65%. Với hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào hành vi phạm tội, xét thấy, tại cấp sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 16 tháng tù là có cơ sở. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử lại miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là không đúng quy định của Bộ luật Hình sự và không đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm về ma túy. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lại Bá Khánh M vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 11/8/2015, Lại Bá Khánh M mua của một người không quen biết tại khu vực thành phố T, tỉnh Thái Bình 1,222 gam Methamphetamine, hàm lượng là 69,65% để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Th kiểm tra thu giữ tang vật. Hành vi nêu trên của bị cáo có dấu hiệu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, xét số lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn, trong 1,222 gam ma túy đã thu giữ chỉ có 0,851 gam Methamphetamine tinh chất. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Theo quy định tại Thông tư 08/2015/TTLT–BCA–VKSNDTC – TANDTC – BTP ngày 14/11/2015 sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư 17/2007/TTLT–BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP, hướng dẫn giải quyết các vụ án về ma túy thì với trọng lượng ma túy nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội mà cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội, xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự. Điều 23 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lại Bá Khánh M.

2. Bị cáo Lại Bá Khánh M không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 13/7/2017.


131
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về